Tóm tắt Quyết định 12/2006/QĐ-UBND ban hành Quy chế báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh tỉnh Lai Châu
Quyết định 12/2006/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu ban hành nhằm thiết lập khung pháp lý chi tiết về tổ chức, hoạt động, tiêu chuẩn và chế độ đối với đội ngũ báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh. Đây là văn bản quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
1. Quy định chung về hiệu lực và trách nhiệm thi hành
Quyết định này ban hành kèm theo Quy chế báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh với các mốc thời gian và trách nhiệm cụ thể:
- Hiệu lực thi hành: Quyết định có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành.
- Trách nhiệm thi hành: Chánh văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, các thành viên Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã và các báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
2. Phương thức và hình thức hoạt động của Báo cáo viên
Hoạt động của báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh được tổ chức một cách khoa học và đa dạng nhằm tiếp cận tối đa các đối tượng:
- Phương thức tổ chức: Việc báo cáo pháp luật được tiến hành thường xuyên theo kế hoạch cụ thể của từng cơ quan, tổ chức. Đồng thời, thực hiện theo từng đợt đột xuất dưới sự hướng dẫn của cơ quan tư tưởng - văn hóa, cơ quan Tư pháp và các cơ quan có thẩm quyền khác.
- Hình thức hoạt động: Báo cáo viên thực hiện nhiệm vụ thông qua các buổi tọa đàm, nói chuyện chuyên đề pháp luật; thông qua các hội nghị chính thức; hoặc thông qua các buổi phỏng vấn trực tiếp trên đài phát thanh và truyền hình địa phương.
- Bảo đảm hiệu quả hoạt động: Sở Tư pháp có vai trò chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan và UBND cấp huyện tham mưu cho UBND tỉnh trong việc xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ, bố trí thời gian và tạo mọi điều kiện thuận lợi để báo cáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.
3. Tiêu chuẩn, nguồn lựa chọn và thủ tục công nhận Báo cáo viên
Để đảm bảo chất lượng của đội ngũ tuyên truyền, quy chế đặt ra các tiêu chuẩn và quy trình tuyển chọn nghiêm ngặt:
- Nguồn lựa chọn: Báo cáo viên được tuyển chọn từ những cán bộ, công chức, sĩ quan đã và đang công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan tư tưởng - văn hóa, cơ quan tuyên huấn thuộc lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ làm công tác pháp luật và một số báo cáo viên xuất sắc cấp huyện, thị xã.
- Tiêu chuẩn bắt buộc:
- Gương mẫu chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có phẩm chất chính trị vững vàng và đạo đức tốt.
- Có uy tín cao trong công tác chuyên môn và đời sống sinh hoạt hàng ngày.
- Có kiến thức chuyên sâu về pháp luật và sở hữu kỹ năng, khả năng thuyết trình, báo cáo pháp luật trước công chúng.
- Tự nguyện, nhiệt tình, có đầy đủ sức khỏe và quỹ thời gian để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Được cơ quan, tổ chức nơi đang công tác hoặc sinh hoạt chính thức giới thiệu.
- Thủ tục công nhận: Sở Tư pháp phối hợp với các cơ quan, tổ chức cùng cấp và UBND cấp huyện lựa chọn nhân sự đủ tiêu chuẩn, trình Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định công nhận. Định kỳ, Sở Tư pháp tiến hành rà soát, đánh giá hoạt động để đề xuất bổ sung hoặc thay thế báo cáo viên phù hợp với tình hình thực tế.
- Thẻ báo cáo viên: Thẻ báo cáo viên do UBND tỉnh cấp theo mẫu thống nhất của Bộ Tư pháp nhằm chứng nhận tư cách và năng lực hoạt động. Thẻ sẽ bị thu hồi ngay khi báo cáo viên bị xóa tên khỏi danh sách.
4. Quyền và nghĩa vụ của Báo cáo viên pháp luật
Quy chế phân định rõ ràng quyền lợi đi đôi với trách nhiệm của báo cáo viên khi thực thi nhiệm vụ:
- Quyền lợi của báo cáo viên:
- Được cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu nghiệp vụ cần thiết.
- Được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực phổ biến, giáo dục pháp luật.
- Được sử dụng thẻ báo cáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền.
- Được hưởng thù lao báo cáo pháp luật theo quy định tại Thông tư 63/2005/TT-BTC với mức chi cụ thể là 100.000 đồng/buổi.
- Nghĩa vụ của báo cáo viên:
- Chịu trách nhiệm cá nhân hoàn toàn về nội dung phát ngôn và báo cáo; nội dung truyền đạt phải đúng tinh thần văn bản pháp luật và phù hợp với đường lối của Đảng; tuyệt đối không tiết lộ bí mật nhà nước và không lạm dụng thẻ báo cáo viên vào mục đích cá nhân.
- Tích cực tự học tập, trau dồi kỹ năng tuyên truyền, tìm hiểu thực tiễn để nâng cao chất lượng bài báo cáo, bảo đảm hoàn thành đúng kế hoạch đề ra.
- Duy trì mối liên hệ thường xuyên với Sở Tư pháp và cơ quan tư tưởng - văn hóa; báo cáo định kỳ về hoạt động của mình cũng như phản hồi của người nghe cho cơ quan quản lý trực tiếp và Sở Tư pháp.
5. Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành là nhân tố quyết định hiệu quả của công tác phổ biến pháp luật:
- Trách nhiệm của Sở Tư pháp:
- Xây dựng đội ngũ quản lý hoạt động của báo cáo viên cấp tỉnh.
- Định kỳ 2 tháng một lần tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ và trao đổi kinh nghiệm thực tế cho đội ngũ báo cáo viên.
- Cung cấp tài liệu, thông tin pháp luật cần thiết.
- Phối hợp với các cơ quan chủ quản tạo điều kiện tối đa về thời gian và phương tiện làm việc cho báo cáo viên.
- Tổ chức sơ kết, tổng kết và thực hiện công tác thi đua, khen thưởng định kỳ.
- Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính lập dự toán kinh phí trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Trách nhiệm của UBND cấp huyện, Thủ trưởng các sở ban ngành và thành viên Hội đồng PBGDPL tỉnh:
- Phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp trong việc xây dựng, quản lý đội ngũ báo cáo viên.
- Lập dự toán kinh phí hàng năm cho công tác phổ biến pháp luật trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Tạo điều kiện thuận lợi nhất để báo cáo viên thực hiện nhiệm vụ và thực hiện chi trả thù lao đầy đủ, đúng quy định.
- Phổ biến văn bản pháp luật mới: Khi có văn bản pháp luật mới cần phổ biến rộng rãi, Sở Tư pháp có trách nhiệm soạn thảo đề cương hướng dẫn. Báo cáo viên căn cứ vào đó để xây dựng đề cương chi tiết, phù hợp với thực tế để tuyên truyền cho cấp dưới, cán bộ, công chức và nhân dân tại địa bàn cư trú.
6. Chế độ khen thưởng và xử lý kỷ luật
Quy chế thiết lập cơ chế khuyến khích đi đôi với chế tài nghiêm khắc để duy trì kỷ cương:
- Khen thưởng: Báo cáo viên có thành tích xuất sắc trong công tác phổ biến pháp luật, giúp nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân sẽ được xem xét khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.
- Kỷ luật: Báo cáo viên vi phạm quy chế hoặc không còn đủ tư cách sẽ bị xem xét xử lý tùy theo mức độ vi phạm, bao gồm các hình thức: tạm đình chỉ hoạt động, xóa tên khỏi danh sách báo cáo viên, thu hồi thẻ báo cáo viên hoặc các hình thức kỷ luật khác theo quy định của pháp luật.
| ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 12/2006/QĐ-UBND | Lai Châu, ngày 03 tháng 3 năm 2006 |
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH QUY CHẾ BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT CẤP TỈNH
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2006;
Căn cứ Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND ngày 03/12/2004;
Căn cứ Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay và Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1: Ban hành kèm theo quyết định này Quy chế báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở: Tư pháp, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn UBND tỉnh, các thành viên Hội đồng phối hợp PBGDPL tỉnh, Chủ tịch các huyện, thị xã và các báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
| TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH |
QUY CHẾ
BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT CẤP TỈNH
(Ban hành kèm theo Quyết định 12/2006/QĐ-UBND ngày 03 tháng 3 năm 2006 của UBND tỉnh)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1: Báo cáo pháp luật
Báo cáo pháp luật là một hoạt động trong công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng, được tiến hành bằng lời nói trước những đối tượng xác định, nhằm truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp người nghe hiểu và nâng cao nhận thức về pháp luật, tôn trọng, thực hiện pháp luật một cách đúng đắn, thống nhất.
Điều 2: Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh
Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh theo Quy chế này là những người được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận để thực hiện nhiệm vụ báo cáo pháp luật (sau đây gọi tắt là Báo cáo viên).
Điều 3: Yêu cầu đối với công tác báo cáo pháp luật
1. Đúng chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước;
2. Chính xác, phổ thông, dễ hiểu, có sức thuyết phục;
3. Phù hợp với đối tượng được truyền đạt;
4. Tác động tích cực đến người nghe nhằm góp phần tạo niềm tin pháp luật, cổ vũ, động viên cán bộ, nhân dân thực hiện đúng chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Điều 4. Phạm vi hoạt động của Báo cáo viên
Báo cáo viên làm việc tại cơ quan, tổ chức nào thì trực tiếp thực hiện báo cáo pháp luật tại cơ quan, tổ chức đó; đồng thời truyền đạt, phổ biên pháp luật cho Báo cáo viên hoặc cán bộ, công chức cơ quan, tổ chức khác khi có yêu cầu.
Điều 5: Phương thức tổ chức hoạt động báo cáo pháp luật
Việc báo cáo pháp luật được tiến hành thường xuyên theo kế hoạch của từng cơ quan, tổ chức đồng thời được thực hiện từng đợt đột xuất theo hướng dẫn của cơ quan tư tưởng- văn hóa, cơ quan Tư pháp và các cơ quan khác có thẩm quyền.
Điều 6. Hình thức hoạt động của Báo cáo viên
- Thông qua các buổi tọa đảm, nói chuyện pháp luật;
- Thông qua các Hội nghị;
- Thông qua các buổi phỏng vấn trên đài phát thanh- truyền hình.
Điều 7. Bảo đảm sự hoạt động có hiệu quả của Báo cáo viên
Sở Tư pháp phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức hữu quan và UBND các huyện, thị xã tham mưu giúp UBND tỉnh xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ Báo cáo viên, bố trí thời gian và tạo điều kiện thuận lợi để Báo cáo viên nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
Chương II
TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA BÁO CÁO VIÊN
Điều 8. Nguồn lựa chọn Báo cáo viên
Báo cáo viên được lựa chọn từ cán bộ, công chức, sĩ quan đã và đang làm việc trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan tư tưởng- văn hóa, trong các cơ quan tuyên huấn thuộc lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị- xã hội; cán bộ, công chức làm công tác pháp luật và một số báo cáo viên huyện, thị xã.
Điều 9. Tiêu chuẩn của Báo cáo viên
- Gương mẫu thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có phẩm chất chính trị vững vàng, tư cách đạo đức tốt;
- Có uy tín trong công tác, trong sinh hoạt;
- Có kiến thức pháp luật, có khả năng báo cáo pháp luật trước công chúng;
- Tự nguyện, nhiệt tình, có đủ điều kiện về sức khỏe và thời gian để hoàn thành nhiệm vụ báo cáo pháp luật;
- Được cơ quan, tổ chức nơi minh công tác, sinh hoạt giới thiệu.
Điều 10. Thủ tục công nhận báo cáo viên
Sở Tư pháp phối hợp với các cơ quan, tổ chức cùng cấp và UBND huyện, thị xã lựa chọn người co đủ tiêu chuẩn trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định công nhận báo cáo viên.
Trong từng thời kỳ, Sở Tư pháp phối hợp với các cơ quan, tổ chức rà soát, đánh giá hoạt động, đề nghị bổ sung hoặc thay đổi báo cáo viên.
Điều 11. Thẻ báo cáo viên
1. Thẻ báo cáo viên chứng nhận tư cách, năng lực báo cáo về pháp luật của người được cấp thẻ; thẻ báo cáo viên theo mẫu thống nhất của Bộ tư pháp.
2. UBND tỉnh cấp thẻ cho Báo cáo viên cấp tỉnh.
3. Thẻ Báo cáo viên bị thu hồi khi người được cấp thẻ bị xóa tên trong danh sách Báo cáo viên.
Điều 12. Quyền của Báo cáo viên
1. Được cung cấp thông tin, văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu khác cần thiết cho công tác báo cáo pháp luật;
2. Được tham dự các hoạt động học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ để nâng cao kiến thức chuyên môn về phổ biến, giáo dục pháp luật;
3. Được sử dụng thẻ báo cáo viên để thực hiện công tác báo cáo pháp luật và tham gia các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật khác;
4. Được hưởng thù lao báo cáo pháp luật theo Thông tư số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; cụ thể là 100.000 đồng/buổi.
Điều 13. Nghĩa vụ của Báo cáo viên
1. Chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung báo cáo, phải phát ngôn phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, truyền đạt đúng tinh thần văn bản pháp luật, không tiết lộ bí mật nhà nước, không sử dụng thẻ báo cáo viên vào các mục đích khác ngoài mục đích giới thiệu tư cách Báo cáo viên;
2. Luôn học tập chuyên môn, trau dồi nghiệp vụ tuyên truyền, tìm hiểu thực tiễn, thu thập thông tin để nâng cao năng lực phổ biến, giáo dục pháp luật, đảm bảo kế hoạch báo cáo pháp luật đã đề ra, thực hiện có chất lượng các hoạt động báo cáo pháp luật;
3. Thường xuyên giữ mối liên hệ với Sở Tư pháp, cơ quan tư tưởng- văn hóa, báo cáo cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý và Sở Tư pháp về hoạt động của mình, về ý kiến của các đối tượng được báo cáo về pháp luật.
Điều 14. Phố biến văn bản pháp luật mới ban hành
Khi có văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành mà theo sự chỉ đạo cần phổ biến rộng rãi. Sở Tư pháp xây dựng đề cương, chỉ đạo việc phổ biến văn bản.
Dựa vào đề cương được cung cấp, Báo cáo viên xây dựng đề cương chi tiết, sát thực tế để phổ biến cho báo cáo viên cấp dưới, cho cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân ở địa bàn nơi mình sinh sống.
Điều 15. Trách nhiệm của Sở Tư pháp trong việc tạo điều kiện để Báo cáo viên hoạt động
Sở Tư pháp phối hợp chặt chẽ với cơ quan tư tưởng- văn hóa và các cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm:
1. Xây dựng đội ngũ quản lý hoạt động của Báo cáo viên;
2. Định kỳ 2 tháng 1 lần tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ trao đổi kinh nghiệm báo cáo pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm không ngừng nâng cao trình độ của Báo cáo viên;
3. Cung cấp thông tin, tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật cần thiết cho Báo cáo viên;
4. Trao đổi, thống nhất ý kiến với các cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý Báo cáo viên để tạo điều kiện về thời gian, phương tiện hoạt động cho Báo cáo viên;
5. Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong hoạt động báo cáo pháp luật;
6. Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính dự toán kinh phí trình cấp có thẩm quyền phê duyệt bảo đảm cho các hoạt động trên.
Điều 16. Trách nhiệm của Chủ tịch UBND huyện, thị xã, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành viên Hội đồng phối hợp công tác phổ biên, giáo dục pháp luật tỉnh
1. Phối hợp với Sở Tư pháp xây dựng và quản lý đội ngũ Báo cáo viên;
2. Dự toán kinh phí hàng năm chong công tác báo cáo pháp luật trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;
3. Tạo điều kiện để Báo cáo viên thực hiện nhiệm vụ báo cáo pháp luật, chi trả thù lao cho Báo cáo viên.
Chương III
KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT
Điều 17. Khen thưởng
Báo cáo viên có thành tích trong hoạt động phổ biến pháp luật, góp phần vào việc nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân thì được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.
Điều 18. Kỷ luật
Báo cáo viên vi phạm Quy chế này, không còn đủ tư cách Báo cáo viên thì tùy theo mức độ có thể bị tạm đình chỉ hoạt động báo cáo pháp luật, xóa tên trong danh sách Báo cáo viên và thu hồi thẻ báo cáo viên hoặc bị áp dụng các hình thức kỷ luật theo quy định chung./.
- 1 Chỉ thị 02/1998/CT-TTg về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2 Quyết định 13/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân 2003
- 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2004
- 1 Quyết định 22/2011/QĐ-UBND bãi bỏ Quyết định 12/2006/QĐ-UBND về Quy chế báo cáo viên pháp luật do tỉnh Lai Châu ban hành
- 2 Quyết định 744/QĐ-UBND năm 2015 công bố kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành từ ngày 01/01/2004 đến ngày 31/12/2014 do Tỉnh Lai Châu ban hành
- 1 Quyết định 12/2011/QĐ-UBND về Quy chế Báo cáo viên pháp luật do tỉnh Đồng Tháp ban hành
- 2 Quyết định 46/2007/QĐ-UBND về quy chế tổ chức và hoạt động Báo cáo viên pháp luật trên địa bàn tỉnh Long An
- 3 Quyết định 1139/2008/QĐ-UBND ban hành quy chế hoạt động của báo cáo viên pháp luật do tỉnh Phú Yên ban hành
- 4 Quyết định 22/2011/QĐ-UBND bãi bỏ Quyết định 12/2006/QĐ-UBND về Quy chế báo cáo viên pháp luật do tỉnh Lai Châu ban hành
- 5 Quyết định 744/QĐ-UBND năm 2015 công bố kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành từ ngày 01/01/2004 đến ngày 31/12/2014 do Tỉnh Lai Châu ban hành
- 1 Quyết định 22/2011/QĐ-UBND bãi bỏ Quyết định 12/2006/QĐ-UBND về Quy chế báo cáo viên pháp luật do tỉnh Lai Châu ban hành
- 2 Quyết định 744/QĐ-UBND năm 2015 công bố kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành từ ngày 01/01/2004 đến ngày 31/12/2014 do Tỉnh Lai Châu ban hành
- 1 Thông tư 63/2005/TT-BTC hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí đảm bảo cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật do Bộ tài chính ban hành
- 2 Chỉ thị 02/1998/CT-TTg về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3 Quyết định 13/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân 2003
- 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2004
- 6 Quyết định 12/2011/QĐ-UBND về Quy chế Báo cáo viên pháp luật do tỉnh Đồng Tháp ban hành
- 7 Quyết định 46/2007/QĐ-UBND về quy chế tổ chức và hoạt động Báo cáo viên pháp luật trên địa bàn tỉnh Long An
- 8 Quyết định 1139/2008/QĐ-UBND ban hành quy chế hoạt động của báo cáo viên pháp luật do tỉnh Phú Yên ban hành