Quyết định 1405/QĐ-TTg năm 2007 do Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định chi tiết về các điều kiện bắt buộc đối với hoạt động ấp trứng gia cầm và chăn nuôi thủy cầm. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và định hướng phát triển ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp, trang trại bền vững.
1. Mục tiêu, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Quyết định xác định rõ các mục tiêu chiến lược cùng phạm vi quản lý đối với hoạt động chăn nuôi và ấp trứng gia cầm:
- Mục tiêu: Kiểm soát chặt chẽ hoạt động ấp trứng gia cầm và chăn nuôi thủy cầm nhằm phòng chống dịch bệnh hiệu quả, đặc biệt là dịch cúm gia cầm. Đồng thời, khuyến khích phát triển chăn nuôi, ấp trứng theo phương thức trang trại, công nghiệp để đạt hiệu quả kinh tế cao và tăng trưởng bền vững.
- Phạm vi điều chỉnh: Quy định điều kiện đối với hoạt động ấp trứng gia cầm (theo phương thức thủ công và công nghiệp) và chăn nuôi thủy cầm bao gồm vịt, ngan, ngỗng (theo hình thức trang trại, công nghiệp và vịt chạy đồng, kể cả vịt thời vụ).
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân là chủ cơ sở ấp trứng gia cầm hoặc chủ cơ sở chăn nuôi thủy cầm. Các chủ cơ sở này có nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật hiện hành về giống vật nuôi, thú y và các điều kiện cụ thể tại Quyết định này.
2. Điều kiện bắt buộc đối với cơ sở ấp trứng gia cầm
Các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực ấp trứng gia cầm phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nghiêm ngặt sau:
- Khai báo hoạt động: Đối với các cơ sở không thuộc diện phải đăng ký kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP, chủ cơ sở bắt buộc phải khai báo với Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã về hoạt động kinh doanh ấp trứng gia cầm của mình.
- Địa điểm cơ sở: Phải phù hợp với quy hoạch phát triển của địa phương; nằm ngoài khu vực nội thành, nội thị, khu dân cư; nằm ngoài khuôn viên của trường học, bệnh viện, chợ, cơ quan hành chính và các địa điểm công cộng khác.
- Vệ sinh thú y và phòng dịch:
- Trứng đưa vào ấp phải được sản xuất từ các đàn gia cầm bố mẹ khỏe mạnh, bảo đảm an toàn dịch bệnh và đã được tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm theo đúng quy định.
- Phải có khu vực riêng biệt để xử lý gia cầm con bị chết, trứng hỏng, vỏ trứng và các loại chất thải phát sinh khác.
- Thực hiện tiêu độc khử trùng định kỳ toàn bộ cơ sở; các dụng cụ ấp trứng và phương tiện vận chuyển gia cầm, trứng phải được tiêu độc khử trùng sạch sẽ sau mỗi lần sử dụng.
- Phải thiết lập và duy trì sổ ghi chép theo dõi chi tiết lượng trứng đưa vào ấp và số lượng gia cầm con xuất bán ra thị trường.
- Bắt buộc phải tạm ngừng toàn bộ hoạt động ấp trứng trong thời gian cơ quan chức năng công bố có dịch cúm gia cầm trên địa bàn.
3. Điều kiện đối với hoạt động chăn nuôi thủy cầm
Quyết định phân định rõ điều kiện áp dụng cho hai phương thức chăn nuôi thủy cầm chính:
Đối với cơ sở chăn nuôi thủy cầm theo hình thức trang trại, công nghiệp:
- Nguồn gốc con giống: Thủy cầm đưa vào nuôi phải được sản xuất từ các cơ sở ấp trứng đủ điều kiện hoạt động theo quy định pháp luật.
- Khai báo hoạt động: Chủ cơ sở chăn nuôi phải khai báo với UBND cấp xã nếu cơ sở không thuộc diện phải đăng ký kinh doanh theo Nghị định số 88/2006/NĐ-CP.
- Địa điểm trang trại: Phải phù hợp với quy hoạch của địa phương; nằm ngoài khu vực nội thành, nội thị, khu dân cư tập trung và ngoài khuôn viên các công trình công cộng như trường học, bệnh viện, chợ, cơ quan.
- Phòng chống dịch bệnh:
- Thực hiện tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm định kỳ cho đàn thủy cầm và lập sổ ghi chép theo dõi quá trình tiêm phòng.
- Tiến hành tiêu độc khử trùng cơ sở chăn nuôi theo định kỳ.
- Khi phát hiện thủy cầm có dấu hiệu bị bệnh, chủ chăn nuôi phải báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc nhân viên thú y xã; nghiêm cấm hành vi bán chạy thủy cầm bị bệnh; thủy cầm chết phải được tiêu hủy theo đúng quy trình kỹ thuật.
- Khi xảy ra dịch bệnh, phải chấp hành nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch theo luật thú y; chỉ được phép nuôi mới hoặc tái đàn sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố hết dịch trên địa bàn.
Đối với hình thức chăn nuôi vịt chạy đồng (kể cả vịt thời vụ):
- Quản lý di chuyển: Chủ chăn nuôi phải khai báo về hoạt động chăn nuôi và địa bàn chăn thả cụ thể với UBND cấp xã để được cấp sổ theo dõi hành trình. Chỉ được phép di chuyển đàn vịt trong phạm vi địa bàn đã khai báo.
- Nguồn giống và tiêm phòng: Giống thủy cầm phải từ cơ sở ấp trứng hợp pháp; đàn vịt phải được tiêm phòng định kỳ đầy đủ theo quy định.
- Xử lý khi có bệnh dịch: Khi phát hiện đàn vịt có dấu hiệu bệnh, phải báo ngay cho chính quyền hoặc thú y xã; tuyệt đối không bán chạy vịt bệnh; tiêu hủy vịt chết đúng quy định. Khi có dịch, phải thực hiện các biện pháp chống dịch và chỉ tái đàn khi địa phương đã công bố hết dịch.
4. Tổ chức thực hiện và Hiệu lực thi hành
Quyết định phân công trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan liên quan để đảm bảo tính thực thi cao:
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
- Tổ chức triển khai và kiểm tra việc thực hiện các quy định trên địa bàn quản lý.
- Xây dựng và phê duyệt quy hoạch cụ thể cho các cơ sở ấp trứng gia cầm, chăn nuôi thủy cầm theo mô hình trang trại, công nghiệp.
- Chỉ đạo các cơ quan thẩm quyền xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định tại Nghị định số 47/2005/NĐ-CP (về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi) và Nghị định số 129/2005/NĐ-CP (về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y).
- Tuyên truyền, vận động người dân hạn chế và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn phương thức chăn nuôi thủy cầm nhỏ lẻ, phân tán không bảo đảm an toàn sinh học.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
- Quy định cụ thể về quy mô đối với từng loại hình cơ sở ấp trứng, chăn nuôi thủy cầm; ban hành hướng dẫn các điều kiện kỹ thuật chi tiết.
- Phối hợp chặt chẽ với UBND các tỉnh, thành phố để kiểm tra thực tế việc thực hiện các điều kiện và quy hoạch xây dựng cơ sở chăn nuôi, ấp trứng.
- Hiệu lực thi hành: Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT |
| Số: 1405/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2007 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ ĐIỀU KIỆN ẤP TRỨNG GIA CẦM VÀ CHĂN NUÔI THỦY CẦM
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh Giống vật nuôi năm 2004, Pháp lệnh Thú y năm 2004;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Mục tiêu
1. Kiểm soát hoạt động ấp trứng gia cầm, chăn nuôi thủy cầm nhằm bảo đảm phòng chống dịch bệnh có hiệu quả, đặc biệt là dịch cúm gia cầm.
2. Khuyến khích phát triển chăn nuôi, ấp trứng gia cầm theo phương thức trang trại, công nghiệp để tăng trưởng bền vững và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Điều 2. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Quyết định này quy định điều kiện ấp trứng gia cầm theo phương thức thủ công, công nghiệp và điều kiện chăn nuôi thủy cầm (vịt, ngan, ngỗng) theo hình thức trang trại, công nghiệp và vịt chạy đồng (kể cả vịt thời vụ).
2. Quyết định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân là chủ cơ sở ấp trứng gia cầm, chủ cơ sở chăn nuôi thủy cầm quy định tại khoản 1 Điều này.
Chủ cơ sở ấp trứng gia cầm, chăn nuôi thủy cầm phải thực hiện các quy định hiện hành của pháp luật về giống vật nuôi, về thú y và các quy định tại Quyết định này.
Điều 3. Điều kiện ấp trứng gia cầm
Cơ sở ấp trứng gia cầm phải có đủ các điều kiện sau đây:
1. Cơ sở ấp trứng không thuộc diện phải đăng ký kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì chủ cơ sở ấp trứng phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã về hoạt động kinh doanh ấp trứng gia cầm.
2. Địa điểm của cơ sở ấp trứng phải phù hợp với quy hoạch của địa phương và ở ngoài khu vực nội thành, nội thị, khu dân cư; ngoài khuôn viên trường học, bệnh viện, chợ, cơ quan và các nơi công cộng khác.
3. Về vệ sinh thú y:
a) Trứng đưa vào ấp phải được sản xuất từ các đàn gia cầm bố mẹ khỏe mạnh, an toàn dịch bệnh, đã tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm theo quy định;
b) Có nơi để xử lý gia cầm con chết, trứng hỏng, vỏ trứng và các chất thải khác;
c) Tiêu độc khử trùng định kỳ;
d) Dụng cụ ấp trứng, phương tiện vận chuyển trứng, gia cầm con phải được tiêu độc khử trùng sau mỗi lần sử dụng;
đ) Có sổ ghi chép theo dõi trứng đưa vào ấp và xuất bán gia cầm con;
e) Ngừng hoạt động ấp trứng trong thời gian công bố có dịch cúm gia cầm trên địa bàn.
Điều 4. Điều kiện chăn nuôi thuỷ cầm
1. Đối với cơ sở chăn nuôi thủy cầm theo hình thức trang trại, công nghiệp:
a) Giống thủy cầm nuôi phải được sản xuất từ các cơ sở ấp trứng đủ điều kiện theo quy định tại
b) Cơ sở chăn nuôi không thuộc diện phải đăng ký kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì chủ cơ sở chăn nuôi phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã về hoạt động kinh doanh chăn nuôi thủy cầm;
c) Địa điểm của cơ sở chăn nuôi phải phù hợp với quy hoạch của địa phương và ở ngoài khu vực nội thành, nội thị, khu dân cư; ngoài khuôn viên trường học, bệnh viện, chợ, cơ quan và các nơi công cộng khác;
d) Thực hiện tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm định kỳ cho đàn thủy cầm theo quy định và có sổ ghi chép theo dõi tiêm phòng;
đ) Thực hiện tiêu độc khử trùng cơ sở chăn nuôi định kỳ;
e) Khi phát hiện thủy cầm có dấu hiệu bị bệnh, chủ chăn nuôi phải khai báo ngay với chính quyền hoặc nhân viên thú y xã; không được bán chạy thủy cầm bệnh; thủy cầm chết phải được tiêu hủy theo đúng quy định;
g) Khi có dịch, chủ chăn nuôi phải thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định của pháp luật về thú y; chỉ nuôi mới hoặc tái đàn sau khi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố hết dịch trên địa bàn.
2. Đối với chăn nuôi vịt chạy đồng:
a) Chủ chăn nuôi vịt chạy đồng phải khai báo về việc chăn nuôi và địa bàn chăn thả vịt với Ủy ban nhân dân cấp xã để được cấp sổ theo dõi;
b) Giống thủy cầm nuôi phải được sản xuất từ các cơ sở ấp trứng đủ điều kiện theo quy định tại
c) Đàn vịt phải được tiêm phòng định kỳ theo quy định;
d) Chỉ được di chuyển đàn vịt trong địa bàn đã khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
đ) Khi phát hiện đàn vịt có dấu hiệu bị bệnh, chủ chăn nuôi phải khai báo ngay với chính quyền hoặc nhân viên thú y xã; không được bán chạy thuỷ cầm bệnh; thuỷ cầm chết phải được tiêu huỷ theo đúng quy định;
e) Khi có dịch, chủ chăn nuôi phải thực hiện các biện pháp phòng chống dịch theo quy định của pháp luật về thú y; chỉ nuôi mới hoặc tái đàn sau khi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố hết dịch trên địa bàn.
Điều 5. Tổ chức thực hiện
1. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:
a) Tổ chức triển khai kiểm tra việc thực hiện các quy định của Quyết định này trên địa bàn;
b) Xây dựng, phê duyệt quy hoạch cơ sở ấp trứng gia cầm, chăn nuôi thủy cầm trang trại, công nghiệp;
c) Triển khai thực hiện công tác phòng, chống dịch cúm gia cầm theo quy định của pháp luật về thú y;
d) Chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các quy định tại Quyết định này theo quy định của Nghị định số 47/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi và Nghị định số 129/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y;
đ) Tổ chức tuyên truyền, vận động các hộ gia đình, cá nhân hạn chế, tiến tới xóa bỏ chăn nuôi thủy cầm nhỏ lẻ, phân tán.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm:
a) Quy định cụ thể về quy mô đối với cơ sở ấp trứng gia cầm, chăn nuôi thủy cầm và hướng dẫn các điều kiện kỹ thuật về ấp trứng gia cầm, chăn nuôi thủy cầm theo quy định của Quyết định này;
b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiểm tra thực hiện các điều kiện ấp trứng gia cầm, chăn nuôi thủy cầm, quy hoạch xây dựng cơ sở ấp trứng, chăn nuôi thủy cầm trang trại, công nghiệp.
Điều 6. Hiệu lực thi hành
1. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
2. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận: | THỦ TƯỚNG |
- 1 Nghị định 129/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y
- 2 Nghị định 88/2006/NĐ-CP về việc đăng ký kinh doanh và cơ quan đăng ký kinh doanh
- 3 Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 4 Pháp lệnh giống vật nuôi năm 2004
- 5 Nghị định 47/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi
- 6 Thông tư 92/2007/TT-BNN hướng dẫn thực hiện Quyết định 1405/QĐ-TTg về điều kiện ấp trứng gia cầm và chăn nuôi thủy cầm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành