Thông tin chung về Quyết định 15/2013/QĐ-UBND
Quyết định 15/2013/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận ban hành ngày 18/03/2013, kèm theo Quy chế đối thoại trực tiếp với công dân, tổ chức trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Quy chế bao gồm 05 Chương và 22 Điều, quy định rõ nguyên tắc, trách nhiệm, trình tự chuẩn bị, tổ chức thực hiện cũng như xử lý công việc sau đối thoại trực tiếp giữa cơ quan quản lý nhà nước với công dân, tổ chức.
Quyết định có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành.
1. Quy định chung về tổ chức đối thoại (Điều 6 - Điều 9)
Chương I thiết lập các nguyên tắc vận hành, quyền hạn, nghĩa vụ và yêu cầu chấp hành quy định trong các buổi đối thoại trực tiếp:
- Hình thức và trách nhiệm giải quyết (Điều 6): Tùy thuộc vào nhu cầu thực tế và tính chất sự việc, cơ quan, đơn vị có thể chủ động tự tổ chức hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức đối thoại. Các cơ quan có trách nhiệm giải quyết dứt điểm, đúng thời hạn các vấn đề thuộc thẩm quyền. Đối với vụ việc vượt thẩm quyền hoặc vướng mắc về cơ chế, chính sách phải kịp thời báo cáo cấp trên. Trường hợp kiến nghị thuộc thẩm quyền cơ quan khác thì chuyển giao ngay và thông báo cho công dân, tổ chức được biết.
- Nội quy phòng đối thoại (Điều 7): Tuyệt đối cấm mang vũ khí, chất nổ, chất độc vào phòng làm việc. Mọi người tham gia phải tuân thủ sự điều hành của người chủ trì; trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Quyền từ chối đối thoại (Điều 8): Người chủ trì đối thoại có quyền từ chối làm việc đối với người không có đủ năng lực hành vi dân sự, người sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích khác, người không có quyền và lợi ích liên quan đến nội dung đối thoại.
- Địa điểm, trang phục và giấy tờ xuất trình (Điều 9): Địa điểm tổ thoại phải trang trọng, đủ điều kiện vật chất và bảo đảm an ninh trật tự. Cán bộ, công chức phải mặc trang phục chỉnh tề, đeo thẻ công chức; công dân, tổ chức khi tham gia phải xuất trình Chứng minh nhân dân/Thẻ căn cước, giấy mời, giấy ủy quyền (nếu có). Trường hợp là tổ chức tham gia đối thoại liên quan đến khiếu nại, tố cáo thì người đứng đầu phải trực tiếp làm đại diện theo pháp luật.
2. Công tác chuẩn bị cho đối thoại (Điều 10 - Điều 13)
Chương II quy định chi tiết quy trình chuẩn bị chu đáo nhằm đảm bảo hiệu quả cho từng buổi đối thoại:
- Lập kế hoạch và xác định quy mô (Điều 10): Cơ quan tổ chức có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình; xác định thành phần, quy mô tham dự và quyết định tổ chức độc lập hoặc liên phối hợp.
- Thu thập và xử lý thông tin, tài liệu (Điều 11): Trình tự chuẩn bị tài liệu bao gồm:
- Thu thập ý kiến qua thư mời, phiếu thăm dò, cổng thông tin điện tử, đơn thư kiến nghị hoặc phản ánh trên báo chí.
- Nghiên cứu, phân loại ý kiến theo chuyên đề, mức độ cấp thiết và phân công bộ phận chức năng chuẩn bị nội dung trả lời.
- Tổ chức thảo luận thống nhất phương án trả lời, chủ động giải quyết trước các vấn đề thuộc thẩm quyền hoặc xin ý kiến cấp trên với vấn đề vượt thẩm quyền.
- Tập hợp toàn bộ tài liệu đối thoại, thể hiện rõ thông tin người kiến nghị, nội dung trả lời, hướng giải quyết, thời hạn và cấp thẩm quyền xử lý.
- Phân công nhân sự và giao nhiệm vụ (Điều 12): Quyết định thành lập Tổ thư ký, Bộ phận tham mưu giúp việc cho người chủ trì trong suốt các giai đoạn (chuẩn bị, tiến hành và xử lý sau đối thoại). Trường hợp phối hợp nhiều đơn vị, phải thống nhất chủ trương, nội dung, thời gian và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bên.
- Gửi thư mời đối thoại (Điều 13): Thư mời phải gửi cho công dân, tổ chức trước ít nhất 05 ngày làm việc. Nội dung thư mời nêu rõ thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung đối thoại và đính kèm phiếu đăng ký nội dung phát biểu.
3. Trình tự và quy định khi thực hiện đối thoại (Điều 14 - Điều 17)
Chương III quy định cách thức điều hành và thái độ làm việc trong suốt thời gian diễn ra cuộc đối thoại:
- Nguyên tắc tiếp nhận thông tin (Điều 14): Toàn bộ ý kiến nêu ra tại cuộc đối thoại đều phải được lắng nghe, ghi chép đầy đủ, tiếp thu nghiêm túc và trả lời kịp thời.
- Trách nhiệm điều hành và trả lời (Điều 15):
- Tổ thư ký: Tiếp nhận, phân loại phiếu đăng ký phát biểu; ghi chép chi tiết diễn biến, ý kiến và nội dung trả lời; tổng hợp kết quả đối thoại.
- Bộ phận tham mưu: Sắp xếp chương trình, theo dõi ý kiến, chuẩn bị căn cứ pháp lý hỗ trợ người chủ trì trả lời hoặc trực tiếp đối thoại khi được yêu cầu.
- Người trả lời: Căn cứ đúng thẩm quyền để giải thích, trả lời cặn kẽ, rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu. Những vấn đề phức tạp cần trả lời bằng văn bản hoặc mời làm việc riêng; vấn đề vượt thẩm quyền chỉ ghi nhận để báo cáo cấp trên.
- Thủ trưởng cơ quan: Chịu trách nhiệm toàn diện trước cấp trên về kết quả trả lời, kể cả khi chỉ định người khác trả lời thay.
- Ý thức của công dân, tổ chức (Điều 16): Phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến giải trình; chỉ phản hồi khi được người chủ trì cho phép; không tự ý cắt ngang, gây mất trật tự hoặc có hành vi gây rối.
- Biên bản đối thoại (Điều 17): Kết thúc cuộc đối thoại phải lập biên bản có đầy đủ chữ ký của các bên. Trường hợp công dân, tổ chức không chịu ký biên bản, thư ký phải ghi rõ lý do vào biên bản.
4. Xử lý công việc sau cuộc đối thoại (Điều 18 - Điều 19)
Chương IV quy định các bước bắt buộc cơ quan nhà nước phải triển khai ngay sau khi kết thúc buổi làm việc:
- Phân công giải quyết công việc (Điều 18): Tiến hành họp đánh giá, rút kinh nghiệm nội bộ và thực hiện các nhiệm vụ:
- Trả lời bằng văn bản cho công dân, tổ chức đối với những nội dung đã hứa trả lời sau.
- Trình cơ quan cấp trên giải quyết các vụ việc vượt thẩm quyền hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách bất cập.
- Chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền đúng chức năng và thông báo cho người kiến nghị biết.
- Rà soát, ban hành hoặc sửa đổi quy trình, thủ tục quản lý nội bộ.
- Chế độ báo cáo và công khai kết quả (Điều 19): Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi kết thúc đối thoại, cơ quan tổ chức phải gửi báo cáo bằng văn bản lên cơ quan cấp trên. Đồng thời, gửi bản tổng hợp ý kiến và kết quả trả lời đến công dân, tổ chức tham dự để giám sát việc thực hiện.
5. Tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát (Điều 20 - Điều 22)
Chương V xác định trách nhiệm thi hành của từng cấp, từng ngành trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận:
- Trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị (Điều 20): Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp tổ chức đối thoại; cụ thể hóa quy chế phù hợp thực tế; chủ động xây dựng kế hoạch đối thoại khi triển khai dự án hoặc có vấn đề bức xúc, nổi cộm, không để phát sinh điểm nóng.
- Chế độ báo cáo định kỳ và khen thưởng, xử lý vi phạm (Điều 21): Tổ chức sơ kết, tổng kết hàng năm; định kỳ báo cáo kết quả hằng quý, 6 tháng, năm và đột xuất về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Thanh tra tỉnh). Kịp thời biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân làm tốt; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Quy chế theo quy định pháp luật.
- Trách nhiệm của Thanh tra tỉnh (Điều 22): Chánh Thanh tra tỉnh chịu trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Quy chế của các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; định kỳ tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và tham mưu xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
| ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 15/2013/QĐ-UBND | Ninh Thuận, ngày 11 tháng 3 năm 2013 |
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH QUY CHẾ ĐỐI THOẠI TRỰC TIẾP VỚI CÔNG DÂN, TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN
ỦY BAN NHÂN TỈNH NINH THUẬN
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18 tháng 02 năm 1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở;
Theo đề nghị của Chánh Thanh tra tỉnh tại Tờ trình số 59/TTr-TTT ngày 14 tháng 12 năm 2012 và Báo cáo kết quả thẩm định số 1582/BC-STP ngày 11 tháng 12 năm 2012 của Sở Tư pháp,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế đối thoại trực tiếp với công dân, tổ chức trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận; gồm 05 Chương, 22 Điều.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 (mười) ngày kể từ ngày ký ban hành.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc các sở, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
| TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
QUY CHẾ
ĐỐI THOẠI TRỰC TIẾP VỚI CÔNG DÂN, TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 15/2013/QĐ-UBND ngày 11 tháng 3 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Quy chế này quy định nguyên tắc, nội dung, phương thức đối thoại trực tiếp với công dân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực, ở các địa phương, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Quy chế này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
Điều 3. Đối thoại là việc người đứng đầu các cơ quan nhà nước, đơn vị, địa phương (gọi tắt là cơ quan, đơn vị) tiếp xúc trực tiếp với công dân, tổ chức nhằm: tiếp nhận các thông tin về tình hình triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phát hiện những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện; tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, những sai phạm của cán bộ, công chức, để giải quyết, chấn chỉnh, xử lý kịp thời.
Thông qua đối thoại để các cơ quan, đơn vị cung cấp và giải thích (nếu có) kịp thời cho công dân, tổ chức các thông tin về chủ trương, chính sách, chế độ, về quy trình, thủ tục quản lý, kiểm tra, giám sát; kết quả xử lý kiến nghị, giải quyết vướng mắc phát sinh, đồng thời thu thập và củng cố những thông tin về các bất cập trong thực thi pháp luật của các cơ quan, đơn vị nhằm giải quyết bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của công dân, tổ chức; tạo điều kiện hỗ trợ cho công dân, tổ chức tự giác chấp hành, thực hiện đúng chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, các quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị.
Điều 4. Đối thoại vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của công dân, tổ chức trong việc phản ánh hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, tham gia đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách, cải tiến quy trình, thủ tục trên các lĩnh vực nhằm phục vụ cho công dân, tổ chức tốt hơn.
Đối thoại được tổ chức theo chuyên đề, thường xuyên theo yêu cầu, nhiệm vụ đặc thù. Mỗi cơ quan, đơn vị trong tỉnh tổ chức đối thoại với công dân, tổ chức ít nhất 02 lần/năm.
Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, ngoài việc tổ chức tiếp công dân định kỳ cần phải có trách nhiệm đối thoại với công dân, tổ chức. Đây là một trong những nội dung quan trọng của công tác dân vận trong các cơ quan Nhà nước, góp phần hạn chế các đơn, thư khiếu nại, tố cáo; khiếu nại, tố cáo vượt cấp nhằm tạo sự đồng thuận trong nhân dân.
Điều 5. Nguyên tắc đối thoại
1. Việc tổ chức đối thoại phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch, trên tinh thần hợp tác, xây dựng và có hiệu quả thiết thực, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” theo quy định về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
2. Khi triển khai các chương trình, đề án có liên quan đến địa bàn dân cư, liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, tổ chức, thủ trưởng cơ quan, đơn vị đó phải tổ chức đối thoại ngay từ đầu để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Điều 6. Căn cứ vào nhu cầu thực tế, tính chất, nội dung đối thoại, cơ quan đơn vị có thể tự tổ chức hoặc phối hợp với các cơ quan khác có liên quan cùng tổ chức đối thoại với công dân, tổ chức trong phạm vi quản lý.
Trong phạm vi, quyền hạn của mình, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trả lời, giải quyết dứt điểm, đúng thời hạn theo quy định những vấn đề được nêu ra trong và sau đối thoại. Những vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của mình, những vướng mắc về chính sách, chế độ phải báo cáo kịp thời lên cấp trên.
Đối với những kiến nghị thuộc trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành khác thì phải chuyển đến cơ quan có chức năng giải quyết kiến nghị đó, đồng thời thông báo cho công dân, tổ chức kiến nghị biết.
Điều 7. Trong buổi đối thoại mọi người tuyệt đối không được mang vũ khí, chất nổ, chất độc vào phòng làm việc, mọi người phải tuân thủ sự điều hành của người chủ trì, nếu vi phạm tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật (Điều này áp dụng cho các cuộc đối thoại có tính chất quan trọng, phức tạp).
Điều 8. Người chủ trì đối thoại có quyền từ chối đối thoại với người không có đủ năng lực hành vi, người uống rượu, bia hoặc dùng các chất kích thích khác, người không có quyền và lợi ích liên quan.
Điều 9. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chọn địa điểm đối thoại phải đảm bảo trang trọng, có đủ điều kiện cần thiết phục vụ cho việc đối thoại và đảm bảo an toàn về an ninh, trật tự theo đúng quy định của pháp luật.
Khi tham gia đối thoại, mọi cán bộ, công chức phải mặc trang phục chỉnh tề (nếu có trang phục của ngành phải mặc), đeo thẻ công chức đúng quy định. Mọi công dân, tổ chức tham gia cuộc đối thoại phải xuất trình chứng minh nhân dân, giấy mời làm việc, giấy ủy quyền (nếu được ủy quyền), nếu là tổ chức được mời, phải là người đứng đầu của cơ quan, tổ chức đó đại diện theo quy định của pháp luật (áp dụng trong các cuộc đối thoại liên quan đến khiếu nại, tố cáo).
Chương II
CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO ĐỐI THOẠI
Điều 10. Cơ quan, đơn vị tổ chức đối thoại có trách nhiệm lập kế hoạch, xây dựng chương trình, nội dung; căn cứ kế hoạch và nhu cầu thực tế để xác định quy mô, thành phần tham dự cho từng cuộc đối thoại; quyết định việc tổ chức cuộc đối thoại độc lập hoặc phối hợp với các cơ quan khác có liên quan tổ chức đối thoại chung.
Điều 11. Cơ quan, đơn vị tổ chức đối thoại phải chủ động chuẩn bị chu đáo các nội dung và tài liệu phục vụ đối thoại theo trình tự sau:
1. Căn cứ vào kế hoạch, mục tiêu cụ thể của mỗi cuộc đối thoại, tiến hành thu thập ý kiến tham gia thông qua các hình thức: thư mời; phiếu thăm dò ý kiến; trang thông tin điện tử của ngành, kiến nghị của công dân, tổ chức gửi đến; các vấn đề được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng.
2. Nghiên cứu, khai thác các ý kiến gửi đến để nắm bắt các vướng mắc phát sinh và yêu cầu của công dân, tổ chức; phân loại theo từng chuyên đề, từng nội dung, theo mức độ cấp thiết của vấn đề kiến nghị, trên cơ sở đó phân công cụ thể cho các đơn vị, bộ phận có liên quan chuẩn bị nội dung trả lời.
3. Tổ chức thảo luận thống nhất về các vấn đề kiến nghị và dự kiến nội dung trả lời để báo cáo cấp trên; đồng thời phân công giải quyết ngay các kiến nghị thuộc thẩm quyền của mình trước khi thực hiện đối thoại hoặc xin ý kiến cấp trên về hướng giải quyết những nội dung vượt quá thẩm quyền của cấp mình.
4. Tất cả các ý kiến thu thập được và nội dung chuẩn bị trả lời đều phải tập hợp vào tài liệu đối thoại, trong đó nêu rõ: tên tổ chức, cá nhân nêu kiến nghị; nội dung kiến nghị; nội dung trả lời, kết quả đã giải quyết hoặc hướng giải quyết, thời gian giải quyết, cấp giải quyết. Tài liệu đối thoại cần sắp xếp phân loại theo chuyên đề, nội dung kết hợp với mức độ xử lý: những việc trả lời ngay tại cuộc đối thoại; những việc cần kiểm tra làm rõ, trả lời sau; những việc ghi nhận và báo cáo cấp trên.
Điều 12. Trước khi tổ chức cuộc đối thoại, thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức đối thoại quyết định nhân sự tham gia đối thoại, tổ thư ký và bộ phận tham mưu (gồm đại diện các đơn vị, bộ phận có liên quan thuộc phạm vi quản lý) giúp thủ trưởng điều hành chương trình đối thoại; giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân, từng bộ phận đảm nhiệm trong các giai đoạn: chuẩn bị đối thoại, tiến hành đối thoại và xử lý công việc sau đối thoại.
Trường hợp phối hợp với các cơ quan, đơn vị khác cùng tiến hành đối thoại, phải trao đổi thống nhất về chủ trương, nội dung, thời gian và thành phần tham gia đối thoại. Trên cơ sở đó phân công nhiệm vụ cho từng cơ quan, đơn vị chuẩn bị trước nội dung, tài liệu và nhân sự để tham gia đối thoại.
Điều 13. Khi công tác chuẩn bị đã đạt yêu cầu, cơ quan, đơn vị tổ chức đối thoại phải gửi thư mời công dân, tổ chức tham dự trong thời gian ít nhất là 05 ngày làm việc trước khi tiến hành đối thoại. Thư mời phải nêu rõ thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung để công dân, tổ chức tham dự nghiên cứu, chuẩn bị trước ý kiến tham gia. Kèm theo thư mời phải có phiếu đăng ký nội dung phát biểu tại cuộc đối thoại để bố trí, sắp xếp chương trình.
Chương III
THỰC HIỆN ĐỐI THOẠI
Điều 14. Tất cả các ý kiến nêu ra tại cuộc đối thoại đều được cơ quan, đơn vị tổ chức đối thoại lắng nghe, ghi chép đầy đủ, tiếp thu nghiêm túc và trả lời kịp thời.
Điều 15. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì tổ chức đối thoại, cơ quan, đơn vị phối hợp tổ chức đối thoại điều hành chương trình cuộc đối thoại. Bộ phận tham mưu, tổ thư ký cuộc đối thoại giúp thủ trưởng điều hành chương trình đối thoại có nhiệm vụ sau:
1. Tổ thư ký chịu trách nhiệm: tiếp nhận các phiếu đăng ký phát biểu từ công dân, tổ chức, phân loại sơ bộ các nhóm vấn đề mà công dân, tổ chức nêu ý kiến để chuyển cho bộ phận tham mưu sắp xếp chương trình, ghi chép đầy đủ các ý kiến của công dân, tổ chức và nội dung trả lời của thủ trưởng, tổng hợp kết quả đối thoại.
2. Bộ phận tham mưu thực hiện các nhiệm vụ: phân loại ý kiến để sắp xếp chương trình; dự kiến số công dân, tổ chức đối thoại; theo dõi, ghi chép đầy đủ các ý kiến của công dân, tổ chức; chuẩn bị các căn cứ pháp lý và nội dung chính giúp thủ trưởng trả lời tại cuộc đối thoại hoặc ghi nhận trả lời sau; trực tiếp đối thoại với công dân, tổ chức nêu ý kiến khi thủ trưởng yêu cầu.
3. Người trả lời đối thoại trực tiếp phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Nhà nước giao của cơ quan mình, cấp mình để trả lời rõ ràng, cặn kẽ, chính xác, ngắn gọn và dễ hiểu. Những vấn đề có tính chất phức tạp hoặc có hồ sơ, văn bản kèm theo thì phải trả lời bằng văn bản hoặc mời công dân, tổ chức nêu ý kiến đến làm việc cụ thể tại trụ sở cơ quan. Những vấn đề không thuộc trách nhiệm, thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền của cấp mình thì chỉ được phép ghi nhận để chuyển giao cho cơ quan có trách nhiệm hoặc báo cáo cấp trên để trả lời sau.
4. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức đối thoại chịu trách nhiệm trước thủ trưởng cơ quan cấp trên về việc trả lời các ý kiến tham gia đối thoại, kể cả trong trường hợp chỉ định người khác trả lời thay.
Điều 16. Đối với công dân, tổ chức trong buổi đối thoại phải tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu các ý kiến phát biểu, trả lời của chủ trì và các ngành liên quan, sau đó mới có ý kiến phản hồi (nếu được chủ trì cho phép), không được tự ý cắt ngang, làm mất trật tự hoặc có hành vi gây rối.
Điều 17. Khi kết thúc các cuộc đối thoại trong biên bản phải có chữ ký của các bên tham gia. Trường hợp công dân, tổ chức tham dự không ký biên bản, người ghi biên bản phải ghi rõ lý do không ký biên bản đối thoại.
Chương IV
XỬ LÝ CÔNG VIỆC SAU ĐỐI THOẠI
Điều 18. Sau cuộc đối thoại, cơ quan nhà nước các cấp phải tiến hành tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm nội bộ và phân công các đơn vị, bộ phận chức năng khẩn trương giải quyết các công việc sau:
1. Trả lời bằng văn bản cho công dân, tổ chức nêu kiến nghị về nội dung đã được thủ trưởng ghi nhận, hứa trả lời sau khi đã kiểm tra, xác minh.
2. Trình cơ quan cấp trên giải quyết các vấn đề vượt quá thẩm quyền đã được nêu ra và ghi nhận tại cuộc đối thoại; đề xuất, kiến nghị với các cơ quan cấp trên về sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách cho phù hợp với thực tiễn.
3. Chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với các kiến nghị thuộc trách nhiệm của cơ quan đó theo chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước phân công, đồng thời thông báo cho công dân, tổ chức nêu kiến nghị biết.
4. Xây dựng chương trình, kế hoạch, biện pháp sửa đổi, hoàn thiện hoặc ban hành các quy trình, thủ tục quản lý.
Điều 19. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc sau khi kết thúc cuộc đối thoại, cơ quan tổ chức đối thoại phải báo cáo kết quả của cuộc đối thoại với cơ quan cấp trên bằng văn bản. Báo cáo phải nêu rõ: nội dung tổ chức đối thoại, thành phần tham gia, các kết quả đạt được qua đối thoại kèm theo tổng hợp các vấn đề đã được nêu ra trong quá trình chuẩn bị và trong thời gian đối thoại, kết quả giải quyết kiến nghị đã trả lời tại cuộc đối thoại; những vấn đề ghi nhận để trả lời sau và thời hạn giải quyết hoặc trả lời; những vấn đề cần tiếp thu, báo cáo cấp trên để bổ sung, sửa đổi chính sách, chế độ hoặc quy trình thủ tục quản lý; những vấn đề phát sinh chưa giải quyết được và biện pháp xử lý tiếp theo.
Nội dung tổng hợp các vấn đề kiến nghị và kết quả trả lời đối thoại phải được gửi đến công dân hoặc đại diện của công dân, tổ chức tham gia đối thoại để họ theo dõi, giám sát việc thực hiện.
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 20. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong phạm vi quyền hạn của mình chịu trách nhiệm: phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội tổ chức tốt đối thoại với công dân, tổ chức theo quy định; cụ thể hoá các quy định của quy chế phù hợp với đặc điểm, điều kiện của cơ quan, đơn vị, địa phương; chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện khi có những vấn đề nổi cộm, khi triển khai nhiệm vụ, chương trình, dự án liên quan đến công dân, những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải tiến hành đối thoại trực tiếp với công dân, không để vấn đề phát sinh.
Điều 21. Các cơ quan, đơn vị hàng năm tổ chức sơ, tổng kết việc triển khai thực hiện công tác đối thoại; định kỳ hằng quý, 6 tháng, năm và đột xuất báo cáo kết quả về Ủy ban nhân dân tỉnh (thông qua Thanh tra tỉnh) để tham mưu chỉ đạo; kịp thời khen thưởng các cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện tốt công tác đối thoại. Cơ quan, đơn vị và cá nhân vi phạm Quy chế này tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý theo pháp luật hiện hành.
Điều 22. Chánh Thanh tra tỉnh có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thủ trưởng các sở, ban, ngành thuộc tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong việc thực hiện QHy chế này, thường xuyên báo cáo kết quả về Ủy ban nhân dân tỉnh để chỉ đạo.
Trong quá trình triển khai thực hiện quy chế, nếu có phát sinh khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân phản ảnh về Thanh tra tỉnh để tổng hợp trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định./.
- 1 Công văn 4073/UBND-THKH thực hiện chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhân dân ban hành
- 2 Quyết định 665/QĐ-UBND năm 2013 về Kế hoạch gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với thanh niên trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- 3 Quyết định 2395/QĐ-UBND năm 2013 thành lập Ban điều hành đối thoại trực tuyến trên môi trường mạng do tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành
- 4 Quyết định 06/2015/QĐ-UBND về Quy chế đối thoại trong giải quyết khiếu nại trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
- 5 Quyết định 21/2017/QĐ-UBND Quy chế đối thoại giữa chính quyền các cấp với Nhân dân trên địa bàn tỉnh Phú Yên
- 6 Quyết định 42/2018/QĐ-UBND về Quy chế đối thoại với tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
- 7 Quyết định 707/QĐ-UBND năm 2019 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận trong kỳ hệ thống hóa 2014-2018
- 1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân 2003
- 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2004
- 3 Chỉ thị 30-CT/TW năm 1998 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở do Bộ Chính trị ban hành
- 4 Công văn 4073/UBND-THKH thực hiện chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhân dân ban hành
- 5 Quyết định 665/QĐ-UBND năm 2013 về Kế hoạch gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với thanh niên trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- 6 Quyết định 2395/QĐ-UBND năm 2013 thành lập Ban điều hành đối thoại trực tuyến trên môi trường mạng do tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành
- 7 Quyết định 06/2015/QĐ-UBND về Quy chế đối thoại trong giải quyết khiếu nại trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
- 8 Quyết định 21/2017/QĐ-UBND Quy chế đối thoại giữa chính quyền các cấp với Nhân dân trên địa bàn tỉnh Phú Yên