Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Quyết định 151-CP năm 1974 do Hội đồng Chính phủ ban hành là một văn bản pháp lý quan trọng nhằm thiết lập chế độ thưởng khuyến khích xuất khẩu đối với các cơ sở sản xuất, các ngành trung ương, địa phương và các Tổng công ty xuất nhập khẩu có thành tích xuất sắc. Dưới đây là tóm tắt chi tiết và chuyên sâu về toàn bộ nội dung, chính sách cốt lõi của quyết định này.

- Mục đích ban hành và phạm vi áp dụng chế độ thưởng

  • Chế độ thưởng được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, các cấp tổ chức và động viên phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, nâng cao phẩm chất và giá trị hàng hóa xuất khẩu. Qua đó, Nhà nước hướng tới mục tiêu tăng nguồn thu ngoại tệ, giảm mức bù lỗ và mở rộng quan hệ ngoại thương.
  • Quyết định này áp dụng trực tiếp cho các đơn vị cơ sở, các ngành trung ương và các địa phương sản xuất hàng xuất khẩu có hoạt động thực tế nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu. Đối với các đơn vị khác có hoạt động ngoại tệ nhưng không thuộc diện này, các cơ quan chức năng sẽ dự thảo chế độ thưởng riêng để trình duyệt sau.

- Thứ tự ưu tiên đối với các mặt hàng xuất khẩu được thưởng

Chính sách thưởng khuyến khích được áp dụng theo thứ tự ưu tiên rõ rệt đối với các nhóm mặt hàng sau:

  • Ưu tiên hàng đầu: Nhóm hàng nông sản, lâm sản, thủy sản và hải sản.
  • Ưu tiên thứ hai: Nhóm hàng tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp.
  • Ưu tiên thứ ba: Nhóm hàng công nghiệp nói chung.

- Đối tượng được hưởng chính sách khuyến khích xuất khẩu

  • Các cơ sở sản xuất quốc doanh và hợp tác xã có đăng ký làm hàng xuất khẩu, đồng thời hoàn thành đầy đủ hợp đồng giao hàng cho cơ quan ngoại thương. Trường hợp cơ sở sản xuất sử dụng nguyên liệu từ đơn vị cung cấp khác đã ký kết hợp đồng đầy đủ, cơ sở sản xuất phải trích một phần tiền thưởng chia sẻ cho đơn vị cung cấp nguyên liệu theo tỷ lệ do Bộ trưởng Bộ Ngoại thương quy định.
  • Các Bộ, Tổng cục và Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thành tích trong việc quản lý, vận động sản xuất, tổ chức nguồn hàng và hỗ trợ tháo gỡ khó khăn để hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch giao hàng xuất khẩu.
  • Các Tổng công ty và công ty xuất khẩu có thành tích xuất sắc trong việc mở rộng thị trường hoặc gia tăng đáng kể kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường trọng điểm cần tranh thủ.

- Điều kiện xét thưởng và hình thức thưởng cụ thể

  • Thưởng bằng tiền Việt Nam: Áp dụng cho các cơ sở sản xuất hoàn thành hoặc hoàn thành vượt mức các điều khoản hợp đồng cụ thể đã ký kết với cơ quan ngoại thương, dựa trên chỉ tiêu pháp lệnh được giao và có sự xác nhận của Bộ Ngoại thương.
  • Thưởng bằng quyền phân bổ kim ngạch ngoại tệ: Áp dụng cho các Bộ, Tổng cục và địa phương hoàn thành vượt mức kế hoạch giao nộp hàng xuất khẩu. Quyền này cho phép sử dụng một tỷ lệ phần trăm thực thu bằng ngoại tệ (tính theo giá FOB sau khi trừ chi phí) để mua ngoại tệ nhập khẩu trang thiết bị, nguyên vật liệu mở rộng sản xuất hoặc trả nợ vay ngân hàng dùng cho nhập khẩu trước đó.
  • Đối với các Tổng công ty và công ty xuất khẩu, hình thức và điều kiện thưởng cụ thể sẽ được quy định bằng văn bản hướng dẫn riêng sau.

- Quy định chi tiết về mức thưởng khuyến khích

Mức thưởng được phân chia cụ thể theo tính chất sản phẩm và mức độ hoàn thành kế hoạch:

  • Đối với sản phẩm chưa qua chế biến hoặc chế biến từ nguyên liệu trong nước: Mức thưởng không quá 2% giá trị hợp đồng đã hoàn thành và không quá 5% đối với phần giá trị vượt mức hợp đồng.
  • Đối với sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu (hàng gia công): Mức thưởng không quá 2% giá trị hợp đồng đã hoàn thành và không quá 4% đối với phần giá trị vượt mức hợp đồng (sau khi đã khấu trừ giá trị nguyên liệu nhập khẩu).
  • Tiêu chí đánh giá mức thưởng: Việc định mức thưởng không chỉ dựa vào số lượng sản phẩm mà còn phải xem xét hiệu quả kinh tế thực tế, bao gồm mức ngoại tệ thu được trên một diện tích canh tác và tỷ lệ bù lỗ của mặt hàng so với giá trị sản phẩm.
  • Mức thưởng quyền phân bổ kim ngạch ngoại tệ: Không quá 3% số ngoại tệ thực thu dựa trên giá trị hàng hóa xuất khẩu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao; và từ 30% đến 50% đối với số ngoại tệ thực thu vượt chỉ tiêu kế hoạch. Hàng quý, Bộ Ngoại thương sẽ thông báo tạm thời 50% mức thưởng để các đơn vị kịp thời sử dụng, cuối năm sẽ quyết toán chính thức.

- Nguồn vốn cấp phát và nguyên tắc quản lý quỹ thưởng

  • Nguồn tiền thưởng Việt Nam: Trích từ quỹ thưởng của Bộ Ngoại thương, được hình thành bằng cách tính thêm 2% trên giá kế hoạch thu mua hàng xuất khẩu hàng năm.
  • Nguồn thưởng quyền phân bổ kim ngạch ngoại tệ: Ủy ban Kế hoạch Nhà nước dành riêng một khoản tương đương 30% giá trị kế hoạch thu ngoại tệ từ xuất khẩu để Bộ Ngoại thương phân bổ cho các Bộ, Tổng cục và địa phương.
  • Xử lý số dư cuối năm: Nếu quỹ thưởng hoặc kim ngạch ngoại tệ không sử dụng hết sẽ được chuyển sang năm sau và khấu trừ vào phần kế hoạch của năm kế tiếp. Nếu thiếu hụt, Bộ Ngoại thương sẽ trình Chính phủ cấp bổ sung.
  • Nguyên tắc sử dụng tiền thưởng: Các xí nghiệp quốc doanh sử dụng tiền thưởng theo chế độ 3 quỹ hiện hành của Nhà nước. Đối với hợp tác xã, tiền thưởng được phân bổ: 50% vào quỹ tích lũy mở rộng sản xuất, 30% vào quỹ phúc lợi tập thể và 20% để thưởng trực tiếp cho cá nhân có thành tích xuất sắc.
  • Thủ tục nhập khẩu bằng ngoại tệ thưởng: Các Bộ, Tổng cục, địa phương khi sử dụng ngoại tệ thưởng để nhập khẩu hàng hóa phải gửi đơn hàng để Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cân đối và chuyển Bộ Ngoại thương thực hiện. Đơn vị thụ hưởng phải có đủ tiền Việt Nam để thanh toán cho Ngân hàng khi nhận hàng.

- Quy trình thực hiện và chế tài xử lý vi phạm

  • Thẩm quyền quyết định: Bộ trưởng Bộ Ngoại thương chủ trì phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính để quyết định mức thưởng và tỷ lệ phân chia cụ thể cho từng loại mặt hàng. Tiền thưởng Việt Nam được cơ quan ngoại thương cấp phát trực tiếp cho cơ sở sản xuất ngay sau khi hoàn thành hợp đồng.
  • Chế tài đối với xí nghiệp quốc doanh: Nếu không hoàn thành kế hoạch giao nộp hàng xuất khẩu mà không có lý do chính đáng, xí nghiệp sẽ bị giảm mức thưởng hoàn thành kế hoạch chung và bị buộc phải chuyển chỉ tiêu thiếu hụt sang kế hoạch năm sau.
  • Chế tài đối với các Bộ, Tổng cục, địa phương: Nếu không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu mà không có lý do chính đáng, đơn vị phải thực hiện giao bù chỉ tiêu vào kế hoạch của năm tiếp theo.
  • Hướng dẫn thi hành: Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm ban hành văn bản quy định chi tiết để hướng dẫn thi hành quyết định này.

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc
********

Số: 151-CP

Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 1974 

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ THƯỞNG KHUYẾN KHÍCH XUẤT KHẨU

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ quyết định số 21- CP ngày 07-02-1972 của Hội đồng Chính phủ về cải tiến kế hoạch hóa công tác xuất khẩu;
Căn cứ nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp thường vụ ngày 30-05-1974;
Theo đề nghị của ông bộ trưởng Bộ Ngoại thương;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Nay ban hành chế độ thường khuyến khích xuất khẩu đối với các cơ sở sản xuất, các ngành trung ương, các địa phương, các Tổng công ty xuất nhập khẩu đã có thành tích trong công tác xuất khẩu hàng hóa.

Mục đích của việc thưởng này là để tạo thêm điều kiện cho các ngành, các cấp trong việc tổ chức và động viên phát triển sản xuất, tăng năng suất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao phẩm chất và giá trị hàng hóa xuất khẩu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho Nhà nước, giảm mức bù lỗ và mở rộng quan hệ ngoại thương.

Điều 2. Các mặt hàng được thưởng khuyến khích theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Hàng nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản;

b) Hàng tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp;

c) Hàng công nghiệp.

Điều 3. Đối tượng được thưởng khuyến khích gồm có:

a) Những cơ sở sản xuất quốc doanh và hợp tác xã có đăng ký làm hàng xuất khẩu và đã thực hiện đầy đủ hợp đồng giao hàng xuất khẩu cho cơ quan ngoại thương.

Các cơ sở sản xuất này, nếu dùng nguyên liệu do các cơ sở sản xuất nguyên liệu đã ký hợp đồng và thực hiện đầy đủ hợp đồng cung cấp nguyên liệu cho mình để sản xuất hàng xuất khẩu thì phải trích một phần tiền thưởng cho cơ sở cung cấp nguyên liệu theo tỷ lệ do ông Bộ trưởng Bộ Ngoại thương quy định, căn cứ vào giá trị nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.

b) Những Bộ, Tổng cục và Ủy ban hành chính các tỉnh, các thành phố trực thuộc trung ương quản lý các cơ sở sản xuất đã có thành tích vận động sản xuất, tổ chức nguồn hàng giúp đỡ giải quyết các khó khăn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch giao hàng xuất khẩu.

c) Những tổng công ty và công ty xuất khẩu đã có thành tích mở rộng thị trường hoặc tăng một mức đáng kể về kim ngạch xuất khẩu vào những thị trường cần tranh thủ.

Điều 4. Điều kiện được xét thưởng và hình thức thưởng quy định như sau:

a) Những cơ sở sản xuất nói trong điểm a của điều 3 đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức các điều khoản của hợp đồng cụ thể đã ký kết với các cơ quan ngoại thương, trên cơ sở những chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước giao cho Bộ, Tổng cục và Ủy ban hành chính địa phương và được Bộ Ngoại thương xác nhận thì sẽ được thưởng bằng tiền Việt Nam.

b) Các Bộ, các Tổng cục, các địa phương nói trong điểm b của điều 3 đã tích cực vận động sản xuất, tổ chức nguồn hàng, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch giao nộp hàng hóa cho xuất khẩu sẽ được thưởng khuyến khích theo hình thức hưởng quyền được phân bổ kim ngạch ngoại tệ mua ngoại tệ nhập trang bị, nguyên vật liệu nhằm mở rộng cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu của ngành và địa phương, hoặc để trả nợ vay của ngành và địa phương, hoặc để trả nợ vay của Ngân hàng để nhập khẩu trước các loại trang bị, thiết bị và nguyên liệu.

Quyền được phân bổ kim ngạch ngoại tệ nói ở đây là quyền được sử dụng một tỷ lệ phần trăm thực thu tính bằng ngoại tệ về bán hàng xuất khẩu theo giá FOB sau khi trừ các chi phí.

c) Đối với các Tổng công ty, công ty xuất khẩu nói ở điểm c của điều 3, hình thức và điều kiện thưởng sẽ được quy định sau.

Điều 5. Mức thưởng quy định cho các đối tượng nói trong điểm a của điều 3:

a) Đối với mặt hàng là sản phẩm chưa qua chế biến, hoặc chế biến bằng nguyên liệu trong nước:

- Không quá 2% giá trị hợp đồng đã hoàn thành,

- Không quá 5% giá trị vượt mức của hợp đồng;

b) Đối với mặt hàng sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu (mặt hàng gia công):

- Không quá 2% giá trị hợp đồng hoàn thành sau khi đã trừ giá trị nguyên liệu nhập khẩu.

- Không quá 4% giá trị vượt mức hợp đồng sau khi đã trừ giá trị nguyên liệu nhập khẩu.

Khi định mức thưởng cho từng mặt hàng không chỉ căn cứ vào số lượng mà còn xét đến hiệu quả kinh tế của mặt hàng ấy, như mức ngoại tệ thu được trên một diện tích canh tác, tỷ lệ bù lỗ nhiều hay ít so với giá trị sản phẩm.

Điều 6. Mức thưởng quy định cho các đối tượng nói trong điểm b của điều 3 về quyền được phân bổ kim ngạch ngoại tệ:

a) Không quá 3% số ngoại tệ thực thu và căn cứ vào giá trị hàng hóa xuất khẩu đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao cho Bộ, Tổng cục và Ủy ban hành chính tỉnh;

b) Từ 30% - 50% số vượt về thực thu bằng ngoại tệ, căn cứ vào mức vượt chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước.

Để khuyến khích kịp thời trong quá trình thực hiện kế hoạch xuất khẩu hàng hóa, căn cứ vào báo cáo số thu ngoại tệ của các Tổng công ty và công ty xuất khẩu được Ngân hàng ngoại thương xác nhận, từng quý Bộ Ngoại thương sẽ thông báo cho các Bộ, các Tổng cục, các địa phương biết để sử dụng kịp thời quyền được phân bổ kim ngạch ngoại tệ bằng 50% mức được thưởng; cuối năm sẽ tính toán lại theo nguyên tắc đã nói trong điểm a và b của điều này.

Điều 7. Nguồn tiền cấp phát thưởng:

a) Thưởng về tiền Việt-nam: do quỹ thưởng của Bộ Ngoại thương cấp. Quỹ này được lập bằng cách hàng năm Bộ Ngoại thương được tính thêm 2% trên giá kế hoạch thu mua hàng xuất khẩu.

b) Thưởng về quyền được phân bổ kim ngạch ngoại tệ: hàng năm khi cân đối kế hoạch xuất khẩu và nhập khẩu, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước dành một phần bằng 30% giá trị kế hoạch thu ngoại tệ về hàng xuất khẩu để Bộ Ngoại thương phân bổ mức thưởng về quyền được sử dụng kim ngạch ngoại tệ cho các Bộ, các Tổng cục, các địa phương.

c) Trường hợp cuối năm thưởng còn thừa tiền hoặc kim ngạch ngoại tệ được phân bổ không được sử dụng hết thì sẽ chuyển qua năm sau để sử dụng và sẽ trừ vào phần ngoại tệ được dành ra để thưởng quyền phẩn bổ kim ngạch ngoại tệ cho năm sau. Nếu thiếu thì xin Chính phủ cấp thêm.

Điều 8. Nguyên tắc phân bổ và sử dụng quỹ thưởng quy định như sau:

a) Đối với xí nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương số tiền thưởng sẽ sử dụng theo chế độ 3 quỹ mà Nhà nước đã ban hành.

b) Đối với các hợp tác xã: số tiền được thưởng này được coi như của hợp tác xã và sẽ phân bổ như sau:

- 50% đưa vào quỹ  tích lũy để mở rộng sản xuất;

- 30% đưa vào quỹ phúc lợi tập thể;

- 20% thưởng cho cá nhân có nhiều thành tích trong sản xuất.

c) Đối với các Bộ, các Tổng cục, các địa phương được thưởng quyền được phân bổ kim ngạch ngoại tệ, khi muốn sử dụng số ngoại tệ này để nhập hàng thì phải có đơn hàng gửi cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước xem xét cân đối và chuyển cho Bộ Ngoại thương nhập. Khi thanh toán số hàng nhập này, các Bộ, các Tổng cục, các địa phương phải có tiền Việt-nam để trả cho Ngân hàng.

Điều 9. Ông Bộ trưởng Bộ Ngoại thương căn cứ vào điều 2, 5, 6 nói trên xét và quyết định mức thưởng và tỷ lệ thưởng cho cơ sở cung cấp nguyên liệu và sản xuất hàng hóa xuất khẩu theo từng lọai mặt hàng sau khi đã thỏa thuận với ông Bộ trưởng Bộ Tài chính, cách tiến hành thưởng quy định như sau:

a) Đối với tiền Việt-nam thưởng cho cơ sở sản xuất: cơ quan ngoại thương cấp phát trực tiếp cho cơ sở sản xuất sau khi hoàn thành hợp đồng.

b) Đối với thưởng quyền được phân phối kim ngạch ngoại tệ: Bộ Ngoại thương sẽ công bố kim ngạch ngoại tệ cho các Bộ, các Tổng cục, các Ủy ban hành chính địa phương để các cơ quan này dùng vào việc nhập khẩu những vật tư cần thiết cho sản xuất hàng xuất khẩu.

Điều 10. Các xí nghiệp quốc doanh không hoàn thành kế hoạch giao nộp hàng hóa cho xuất khẩu thì bị giảm mức thưởng hoàn thành kế hoạch chung và phải giao vào kế hoạch năm sau, nếu không có lý do chính đáng.

Các Bộ, các Tổng cục, các Ủy ban hành chính địa phương không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu, nếu không có lý do chính đáng, thì phải giao bù vào kế hoạch năm sau.

Điều 11. Căn cứ vào những nguyên tắc trên đây, ông Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, ông Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt-nam quy định chi tiết thi hành quyết định này.

Điều 12. Quyết định thưởng này chỉ mới áp dụng cho các đơn vị cơ sở, các ngành trung ương, các địa phương sản xuất hàng xuất khẩu có hoạt động nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng quan hệ ngoại thương. Còn đối với các đơn vị khác có hoạt động về ngoại tệ trong khi thực hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước thì Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước dự thảo sớm chế độ thưởng ngoại tệ để trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ duyệt và ban hành.

 

 

T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Lê Thanh Nghị

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 151-CP năm 1974 về thưởng khuyến khích xuất khẩu do Hội đồng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 151-CP
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 01/07/1974
Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
Người ký: Lê Thanh Nghị
Ngày công báo: 15/07/1974
Số công báo: Số 11
Ngày hiệu lực: 16/07/1974
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Xuất nhập khẩu
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 151-CP năm 1974 về thưởng khuyến k...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký