Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH 154/2004/QĐ-UB VỀ QUY ĐỊNH DẠY THÊM HỌC THÊM TẠI TỈNH HẬU GIANG

Quyết định số 154/2004/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành nhằm thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ, quản lý toàn diện hoạt động dạy thêm và học thêm trên địa bàn tỉnh. Văn bản này chính thức thay thế Quyết định số 52/2001/QĐ-UB ngày 01/8/2001 của UBND tỉnh Cần Thơ trước đây và áp dụng thống nhất cho tất cả các cơ sở giáo dục, tổ chức, cá nhân liên quan tại tỉnh Hậu Giang.

1. Quy định về trách nhiệm phục vụ và các hình thức dạy thêm

Hoạt động dạy thêm được phân chia rõ ràng thành hai nhóm chính: trách nhiệm phục vụ của nhà trường và dạy thêm theo nhu cầu người học.

  • Trách nhiệm phục vụ của trường phổ thông: Việc phụ đạo học sinh yếu kém và bồi dưỡng học sinh giỏi là trách nhiệm của giáo viên dạy chính khóa, do nhà trường tổ chức theo từng khối, lớp và không được thu học phí. Nhà trường được phép tổ chức ôn thi tốt nghiệp cho học sinh lớp 5 (tối đa 1 tháng trước kỳ thi, không quá 2 buổi/tuần, mỗi buổi 3 tiết), lớp 9 và lớp 12 (tối đa 2 tháng trước kỳ thi, không quá 3 buổi/tuần). Hoạt động này được chi trả bằng nguồn kinh phí thêm giờ do nhà nước cấp đối với bậc tiểu học, và từ nguồn học phí đối với bậc trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT). Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp, tuyệt đối không được ép buộc học sinh học thêm dưới bất kỳ hình thức nào để thu tiền.
  • Dạy thêm theo nhu cầu của người học: Các lớp dạy thêm có thu tiền theo chương trình phổ thông có từ 5 học sinh trở lên do cá nhân mở ngoài nhà trường chỉ được hoạt động sau khi đăng ký và được cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền cấp giấy phép. Trường hợp dưới 5 học sinh (được coi là hình thức gia sư, kèm cặp) vẫn phải làm thủ tục đăng ký.
  • Quy định đặc thù đối với bậc tiểu học: Nghiêm cấm hoàn toàn việc tổ chức dạy thêm có thu tiền ở bậc tiểu học, kể cả trong thời gian nghỉ hè. Đối với trường hợp giáo viên tiểu học nhận trông nom học sinh ngoài giờ theo yêu cầu của gia đình, không được biến tướng thành lớp dạy thêm mà chỉ được hướng dẫn học sinh tự học; đồng thời phải làm đơn đăng ký với Hiệu trưởng và chịu sự kiểm tra của cơ quan giáo dục cũng như chính quyền địa phương.
  • Dạy tin học và ngoại ngữ: Các lớp hoặc trung tâm dạy tin học, ngoại ngữ do cá nhân hoặc tổ chức không có chức năng đào tạo chuyên ngành lập ra phải đăng ký và được sự cho phép, quản lý của Sở Giáo dục - Đào tạo.
  • Hạn chế dạy thêm chính khóa: Hiệu trưởng có trách nhiệm quản lý và hạn chế tối đa việc cho phép giáo viên dạy thêm có thu tiền đối với chính học sinh mà giáo viên đó đang dạy chính khóa.

2. Điều kiện học thêm và tiêu chuẩn mở lớp dạy thêm

Để đảm bảo chất lượng dạy và học, quyết định đưa ra các tiêu chuẩn khắt khe về cả người học, người dạy và cơ sở vật chất:

  • Điều kiện đối với người học: Học sinh trung học có nhu cầu được quyền đăng ký học thêm tại các lớp đã được cấp phép. Nếu học thêm các môn do giáo viên dạy chính khóa mở tại trường, phải có đơn xin tự nguyện do cha mẹ học sinh đứng tên gửi Ban Giám hiệu nhà trường xem xét quyết định.
  • Nội dung giảng dạy: Nội dung dạy thêm phải nhằm củng cố, mở rộng kiến thức đã học và rèn luyện kỹ năng vận dụng thông qua làm bài tập. Nghiêm cấm việc dạy trước chương trình năm học, hướng dẫn trước các bài tập sẽ ra trong đề kiểm tra chính khóa, hoặc có biểu hiện phân biệt đối xử với học sinh không học thêm.
  • Tiêu chuẩn đối với người dạy: Người dạy phải đạt chuẩn trình độ sư phạm theo từng cấp học (Tiểu học: tốt nghiệp trung học sư phạm 12+2 trở lên; THCS: tốt nghiệp cao đẳng sư phạm 12+3 trở lên; THPT: tốt nghiệp đại học sư phạm trở lên). Đối với môn tin học, ngoại ngữ, người dạy phải có trình độ từ cao đẳng chuyên ngành trở lên và đã trực tiếp giảng dạy ít nhất 3 năm. Giáo viên đang công tác phải được xếp loại toàn diện từ khá trở lên; giáo viên nghỉ hưu hoặc nghỉ việc phải có xác nhận tư cách đạo đức của UBND cấp xã và chứng nhận sức khỏe của cơ quan y tế.
  • Yêu cầu về cơ sở vật chất: Lớp học ngoài nhà trường phải đảm bảo diện tích, ánh sáng, bàn ghế đúng quy cách học đường, thoáng mát và vệ sinh. Sĩ số tối đa không quá 40 học sinh/lớp. Đối với dịch vụ trông giữ học sinh tiểu học, phải đảm bảo nơi ăn nghỉ hợp vệ sinh và đủ bàn ghế để học sinh tự học.

3. Quy định về học phí và quản lý tài chính thu chi

Vấn đề tài chính trong dạy thêm, học thêm được quản lý chặt chẽ nhằm tránh tình trạng lạm thu:

  • Mức trần học phí: Đối với dạy thêm thường xuyên, luyện thi dài hạn, ôn thi tuyển sinh, tin học, ngoại ngữ, học phí được tính trên cơ sở chi phí thù lao cho người dạy cộng với 20% phí quản lý, chia bình quân cho sĩ số (40 học sinh/lớp, riêng tin học là 20 học sinh/lớp), nhưng tối đa không quá 50.000 đồng/học sinh/tháng. Đối với luyện thi cấp tốc (từ 30 ngày trở xuống), thù lao mỗi tiết dạy được nhân hệ số 1,5. Chi phí trông giữ học sinh tiểu học do giáo viên và phụ huynh tự thỏa thuận nhưng phải thông qua chính quyền địa phương.
  • Quản lý thu chi: Việc thu tiền học thêm trong nhà trường do Hiệu trưởng tổ chức thông qua giáo viên hoặc tài vụ. Đối với các lớp ngoài nhà trường, cá nhân hoặc tổ chức tự thu và phải trích nộp quản lý phí theo quy định. Mọi hoạt động thu chi phải có sổ sách hạch toán đầy đủ, rõ ràng.
  • Phân bổ và sử dụng học phí trong nhà trường: Nguồn thu từ các lớp trong nhà trường được phân phối theo tỷ lệ: 80% chi thù lao cho giáo viên trực tiếp giảng dạy; 20% trích nộp quản lý phí (trong đó 10% chi khấu hao tài sản và mua tài liệu, 5% chi cho công tác quản lý tổ chức lớp, 5% chi phí điện nước và phục vụ). Nhà trường phải thanh quyết toán công khai trước cha mẹ học sinh.
  • Phân bổ học phí đối với cơ sở ngoài nhà trường: Các lớp, trung tâm ngoài nhà trường phải trích nộp 5% tổng thu học phí mỗi khóa học cho cơ quan quản lý giáo dục trực tiếp theo phân cấp để phục vụ công tác quản lý, kiểm tra. 95% còn lại dùng để chi thù lao giáo viên và các chi phí vận hành khác.

4. Phân cấp quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm

Quyết định phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước đối với từng cấp học và loại hình đào tạo:

  • Sở Giáo dục - Đào tạo: Chịu trách nhiệm quản lý, cấp phép và kiểm tra các lớp dạy thêm theo chương trình THPT (trong và ngoài nhà trường); các lớp luyện thi đại học của giảng viên, giáo viên thuộc các cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp; các trung tâm tin học, ngoại ngữ do tổ chức hoặc cá nhân không chuyên ngành thành lập.
  • Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện, thị xã: Chịu trách nhiệm quản lý, cấp phép mở lớp và kiểm tra các lớp dạy thêm thuộc chương trình THCS và tiểu học trên địa bàn.
  • Hiệu trưởng các trường phổ thông: Chịu trách nhiệm trực tiếp về hoạt động dạy thêm trong khuôn viên trường; phối hợp với các cơ quan quản lý để kiểm tra hoạt động dạy thêm ngoài nhà trường của giáo viên thuộc quyền quản lý của mình. Hiệu trưởng trường tiểu học chịu trách nhiệm kiểm soát việc trông giữ học sinh ngoài giờ của giáo viên trường mình.
  • Chính quyền địa phương và các ban ngành: Phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục để tăng cường quản lý, kiểm tra, đảm bảo an ninh trật tự tại các điểm dạy thêm ngoài nhà trường trên địa bàn phụ trách.

5. Điều khoản thi hành và xử lý vi phạm

Để chuyển đổi mô hình quản lý một cách đồng bộ, quyết định đưa ra các mốc thời gian và chế tài cụ thể:

  • Thời hạn đăng ký lại: Tất cả các lớp, trung tâm dạy thêm có thu tiền đang hoạt động trước khi quyết định này ban hành chỉ được phép tiếp tục hoạt động đến hết ngày 30/7/2004. Sau thời hạn này, muốn tiếp tục hoạt động bắt buộc phải hoàn tất thủ tục đăng ký và được cấp phép mới.
  • Chế tài xử lý vi phạm: Mọi tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về dạy thêm, học thêm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm theo quy định của pháp luật hiện hành tùy theo mức độ vi phạm. Cơ quan quản lý có quyền đình chỉ hoạt động đối với các cơ sở không đảm bảo chất lượng giảng dạy, trình độ người dạy hoặc cơ sở vật chất không đúng như cam kết đăng ký.

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------

Số: 154/2004/QĐ-UB

Vị Thanh, ngày 16 tháng 9 năm 2004

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH DẠY THÊM, HỌC THÊM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẬU GIANG

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Chỉ thị 15/2000/CT-BGD&ĐT ngày 17/5/2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về các biện pháp cấp bách tăng cường quản lý dạy thêm, học thêm;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Giáo dục- Đào tạo và Giám đốc Sở Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay, ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về dạy thêm học thêm trên địa bàn tỉnh Hậu giang.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 52/2001/QĐ-UB ngày 01/8/2001 của UBND tỉnh Cần Thơ về việc ban hành Quy định dạy thêm, học thêm trên địa bàn tỉnh Cần Thơ và những quy định trước đây trái với nội dung Quyết định này.

Điều 3. Chánh văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Giáo dục- Đào tạo, Giám đốc các sở, Chủ tịch UBND Thị xã Vị Thanh và các huyện, Thủ trưởng các cơ quan và đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

 

Nơi nhận:
- Như điều 3
- Bộ GD-ĐT
- Cục kiểm tra văn bản-BTP
- TT.TU, TT.HĐND, TT.UBND tỉnh
- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, VP.TU
- MTTQ và các đoàn thể
- Các trường Đại học, Cao đẳng, THCN trên địa bàn tỉnh ( Đã ký )
- Phòng VBTT, Sở Tư pháp
- Lưu VP (2A, 4, LT)

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
CHỦ TỊCH




Trịnh Quang Hưng

 

QUY ĐỊNH

VỀ VIỆC DẠY THÊM, HỌC THÊM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẬU GIANG
(Ban hành kèm theo quyết định số: 154/2004/QĐ-UB ngày 16 tháng 9 năm 2004 của ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Hoạt động dạy thêm là hoạt động giảng dạy ngoài giờ chính khóa cho học sinh phổ thông; giảng dạy ôn luyện thi tốt nghiệp, tuyển sinh các cấp học; giảng dạy các môn tin học, ngoại ngữ ngoài các cơ sở có chức năng đào tạo chuyên ngành, nghề (gọi chung là đào tạo chuyên ngành).

Hoạt động dạy thêm bao gồm: dạy thêm thuộc trách nhiệm phục vụ của các trường phổ thông và dạy thêm theo nhu cầu của người học có thu tiền. Đối với trường ngoài công lập (bán công, dân lập, tư thục), hoạt động dạy thêm phải theo nguyên tắc phục vụ học sinh.

Điều 2. Học thêm là nhu cầu của một bộ phận học sinh và gia đình nhằm mở rộng, nâng cao kiến thức. Việc học thêm phải đảm bảo là tự nguyện. Nghiêm cấm việc phân biệt đối xử, lôi kéo, ép buộc học sinh học thêm dưới mọi hình thức.

Cha mẹ học sinh có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và các thầy, cô giáo trong việc quản lý dạy thêm, học thêm.

Điều 3. Các tổ chức hoặc cá nhân mở lớp dạy thêm trong hay ngoài trường học, theo nhu cầu người học có thu tiền phải có đủ điều kiện theo quy định ở điều 2 và chỉ được hoạt động sau khi đăng ký và được cơ quan có thẩm quyền cấp phép được đăng ký dạy thêm.

Các cấp quản lý giáo dục phối hợp với Ban, ngành có liên quan kiểm tra các điều kiện theo Điều 8 của Quy định này để xem xét cho phép mở lớp dạy thêm; quản lý thống nhất các lớp dạy theo nhu cầu của người học có thu tiền do tổ chức hoặc cá nhân mở trong hoặc ngoài trường học và cơ sở giáo dục khác (sau đây gọi tắt là trường học); tăng cường kiểm tra hoạt động giảng dạy nhằm đảm bảo lợi ích của người học và trách nhiệm của người dạy; xử lý những trường hợp hành nghề trái phép hoặc được phép mở lớp nhưng không đảm bảo chất lượng giảng dạy, trình độ người dạy và cở sở vật chất theo nội dung đã đăng ký.

Điều 4. Tổ chức hoặc cá nhân mở lớp dạy thêm được hưởng các chính sách ưu đãi và phải thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định nêu trên.

Chương II

NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Điều 5. Dạy thêm thuộc trách nhiệm phục vụ của các trường phổ thông:

1. Việc phụ đạo cho học sinh yếu kém và việc bồi dưỡng cho học sinh giỏi là trách nhiệm của giáo viên dạy chính khóa sẽ được nhà trường phổ thông tổ chức theo từng khối, lớp phân công giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy.

2. Hiệu trưởng các trường có trách nhiệm tổ chức, quản lý việc dạy thêm, học thêm, ôn thi tốt nghiệp cho học sinh lớp 5 trong 1 tháng trước kỳ thi, mỗi tuần không quá 2 buổi (mỗi buổi 3 tiết); cho học sinh lớp 9 và lớp 12 trong hai tháng trước kỳ thi, mỗi tuần không quá 3 buổi. Hoạt động dạy thêm này được chi trả bằng nguồn kinh phí thêm giờ do nhà nước cấp đối với bậc tiểu học, từ nguồn học phí đối với bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.

3. Hiệu trưởng các trường chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý việc dạy thêm của giáo viên theo đúng quy định, đảm bảo nguyên tắc phục vụ học sinh; không được ép buộc học sinh học thêm dưới bất cứ hình thức nào để thu tiền.

Điều 6. Dạy thêm theo nhu cầu của người học trong và ngoài nhà trường, cơ sở giáo dục dạy nghề.

1. Các lớp dạy thêm khác có thu tiền theo chương trình phổ thông có từ 5 học sinh trở lên (dưới 5 học sinh được coi là hình thức gia sư, kèm cặp nhưng cũng phải làm thủ tục xin đăng ký) do cá nhân mở lớp ngoài nhà trường, chỉ được hoạt động sau khi đăng ký dạy thêm và được cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền cấp giấy phép đăng ký dạy thêm (trường tổ chức mở lớp không phải làm đơn và phải báo cáo Sở) đồng thời chịu sự quản lý, kiểm tra của của cơ quan quản lý giáo dục địa phương.

2. Bậc tiểu học không được tổ chức dạy thêm có thu tiền kể cả trong thời gian nghỉ hè. Các trường hợp giáo viên tiểu học nhận trông nom học sinh ngoài giờ học theo yêu cầu của gia đình thì không được biến thành lớp dạy thêm mà chỉ có thể hướng dẫn để học sinh tự học và phải làm đơn đăng ký với Hiệu trưởng trường nơi giáo viên đang công tác và chịu sự kiểm tra và quản lý không chỉ của cơ quan quản lý giáo dục địa phương mà còn của chính quyền các cấp.

3. Các lớp dạy tin học ngoại ngữ (Trung tâm) do cá nhân hoặc tổ chức không có chức năng đào tạo chuyên ngành môn học đó lập ra, phải đăng ký và được sự cho phép của Sở Giáo dục - Đào tạo, đồng thời phải chịu sự kiểm tra, quản lý của Sở Giáo dục - Đào tạo.

4. Hiệu trưởng sẽ chịu trách nhiệm quản lý và hạn chế việc cho phép giáo viên dạy thêm có thu tiền đối với học sinh của giáo viên đó dạy chính khóa.

Chương III

ĐIỀU KIỆN HỌC THÊM, MỞ LỚP DẠY THÊM VÀ NỘI DUNG DẠY THÊM

Điều 7. Điều kiện học thêm và nội dung dạy thêm:

1. Cha mẹ học sinh tiểu học có nhu cầu gửi con cho giáo viên trông nom ngoài giờ học, nếu gởi cho giáo viên đang dạy con mình ở trường phổ thông thì phải làm đơn xin gởi Ban giám hiệu trường xem xét giải quyết.

2. Tất cả học sinh trung học có nhu cầu đều được quyền đăng ký học thêm ở những lớp (Trung tâm) dạy thêm được các cấp quản lý giáo dục có thẩm quyền cho phép.

Trường hợp học sinh học thêm các môn học ở các lớp do giáo viên dạy chính khóa mở ở trường học sinh đang học thì phải có đơn xin do cha mẹ học sinh đứng tên gởi Ban Giám hiệu trường xem xét giải quyết.

3. Nội dung dạy thêm nhằm củng cố kiến thức mà học sinh đã và đang học, phát triển mở rộng những kiến thức đó và rèn luyện kỹ năng vận dụng, ứng dụng thông qua việc hướng dẫn làm bài tập, luyện tập.

Nghiêm cấm việc giảng dạy trước chương trình môn học đó theo phấn phối chương trình năm học, hướng dẫn trước những bài tập sẽ ra đề kiểm tra trong lớp và những biểu hiện phân biệt đối xử với những học sinh không học thêm...

Điều 8. Điều kiện mở lớp dạy thêm:

Người trực tiếp dạy thêm phải có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm theo quy đinh cho từng cấp học, bậc học (tiểu học tốt nghiệp trung học sư phạm 12+2 trở lên; Trung học cơ sở tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm (12+3) trở lên; Trung học phổ thông tốt nghiệp Đại học sư phạm trở lên) và đối với những người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chuẩn tin học ngoại ngữ (Cao đẳng tin học, ngoại ngữ hoặc tương đương trở lên); đã trực tiếp giảng dạy ít nhất 3 năm (trường hợp chưa giảng dạy môn tin học ngoại ngữ ở cở sở có chức năng đào tạo chuyên ngành thì phải có trình độ đại học tin học, ngoại ngữ hoặc tương đương trở lên).

Nếu là giáo viên đang giảng dạy phải được xếp loại toàn diện từ khá trở lên và được nhà trường xác nhận hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nếu là giáo viên đã nghỉ hưu, nghỉ việc phải được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận tư cách đạo đức và cơ quan y tế xác nhận về tình trạng sức khỏe bình thường .

Nếu giáo viên mở lớp ngoài nhà trường, cơ sở đào tạo chuyên ngành thì phải đảm bảo đủ cơ sở vật chất: phòng lớp, bàn ghế thoáng mát, vệ sinh tốt, đảm bảo ánh sáng, bàn ghế đúng quy cách và diện tích theo quy định như trong trường phổ thông bình thường; phải đủ trang thiết bị tối thiểu của một cơ sở đào tạo chuyên ngành (tin học, ngoại ngữ). Mỗi lớp dạy thêm không quá 40 học sinh.

- Nếu giáo viên nhận trông nom học sinh tiểu học ngoài giờ học theo yêu cầu của gia đình thì phải có đủ nơi ăn nghỉ hợp vệ sinh (nếu học sinh có nhu cầu ăn nghỉ) và có đủ bàn ghế để học sinh tự học.

- Việc mở lớp ngoài phải đảm bảo không ảnh hưởng đến địa phương về mọi mặt. Nhà trường cần cố gắng sử dụng tối đa phòng, lớp trống để học sinh có nhu cầu được học thêm trong trường, hạn chế dạy thêm ở nhà và có kế hoạch tổ chức quản lý chặt chẽ các lớp dạy thêm đảm bảo chất lượng kể cả ngay trong thời gian nghỉ hè.

Chương IV

HỌC PHÍ VÀ QUẢN LÝ THU CHI HỌC PHÍ

Điều 9. Về thu học phí:

1. Không thu học phí đối với việc phụ đạo học sinh yếu kém và bồi dưỡng học sinh giỏi do nhà trường tổ chức.

Đối với dạy thêm ôn thi tốt nghiệp các cấp do nhà trường tổ chức thực hiện thu trong phần học phí ngay từ đầu năm.

2. Đối với việc dạy thêm thường xuyên, luyện thi dài hạn, ôn thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp (theo chương trình phổ thông các cấp), tin học, ngoại ngữ:

- Học phí được tính trên cơ sở chi phí thù lao cho người dạy cộng với 20% phí quản lý chia bình quân cho 40 học sinh/lớp (đối với tin học chia cho 20 học sinh/lớp) thành học phí từng tháng hoặc cả khóa học nhưng không quá 50.000đ/học sinh/tháng.

- Đối với luyện thi cấp tốc (30 ngày trở xuống) thù lao mỗi tiết dạy được nhân lên 1,5 lần.

3. Đối với giáo viên tiểu học nhận trông nom học sinh ngoài giờ học theo yêu cầu của gia đình, nếu có ăn nghỉ trưa thì chi phí ăn nghỉ theo thỏa thuận giữa giáo viên và gia đình. Chi phí trông nom học sinh (kể cả hướng dẫn học sinh tự học) theo thỏa thuận giữa giáo viên và phụ huynh nhưng phải thông qua chính quyền địa phương và được sự thống nhất.

Điều 10. Về thu tiền học thêm của học sinh trong nhà trường do Hiệu trưởng tổ chức thông qua giáo viên dạy thêm hoặc tài vụ trường.

Đối với thu tiền học thêm của học sinh ngoài nhà trường do cá nhân, cơ sở hoặc tổ chức thu và phải trích nộp quản lý phí cho các cấp quản lý giáo dục (theo phân cấp).

Việc thu tiền thêm của học sinh phải có sổ sách hạch toán thu chi đầy đủ rõ ràng.

Nghiêm cấm việc lợi dụng hoạt động dạy thêm, học thêm để thu tiền sai quy định.

Điều 11. Việc sử dụng học phí được thực hiện như sau:

1. Đối với các lớp dạy thêm trong nhà trường:

- 80% chi thù lao cho giáo viên trực tiếp giảng dạy.

- 20% trích nộp quản lý phí cho quản lý dạy thêm. Chia ra:

. 10% chi khấu hao tài sản, mua sắm tài liệu dạy thêm.

. 5% chi cho công tác quản lý, tổ chức lớp học thêm, dạy thêm của trường.

. 5% chi phí điện, nước và phục vụ dạy thêm.

. Nhà trường thống nhất quản lý thu và chi quỹ học thêm, thanh quyết toán công khai trước cha mẹ học sinh.

2. Đối với các lớp (Trung tâm) dạy thêm mở ngoài nhà trường:

- Trích nộp 5% tổng thu học phí cho mỗi khóa học của lớp (Trung tâm) dạy thêm mở ngoài nhà trường cho cơ quan quản lý theo phân cấp để phục vụ công tác quản lý, phối hợp kiểm tra việc dạy thêm học thêm.

- Phần học phí còn lại (sau khi trích nộp quản lý phí) chi cho thù lao giáo viên và các chi phí khác của hoạt động dạy thêm.

Chương V

QUẢN LÝ DẠY THÊM, HỌC THÊM

Điều 12. Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo chịu trách nhiệm quản lý, cho phép và kiểm tra các hoạt động dạy thêm sau:

- Các lớp dạy thêm theo nhu cầu người học, mở trong hoặc ngoài nhà trường do giáo viên phổ thông dạy theo chương trình trung học phổ thông.

- Các lớp do giảng viên, giáo viên của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp mở trong hoặc ngoài cơ sở đó để luyện thi tuyển sinh hoặc nâng cao kiến thức các môn học thuộc chương trình trung học phổ thông.

- Các lớp tổ chức, cá nhân khác (ngoài 2 nhóm lớp trên) mở để củng cố, nâng cao kiến thức, luyện thi các môn học thuộc chương trình trung học phổ thông.

- Các lớp (trung tâm) dạy tin học, ngoại ngữ do cá nhân hoặc tổ chức (cơ quan đơn vị, cơ sở giáo dục) không có chức năng đào tạo chuyên ngành môn học đó lập ra.

Điều 13. Trưởng phòng Giáo dục và đào tạo huyện, thị quản lý, cho phép mở lớp và kiểm tra các lớp (Trung tâm) dạy thêm trong và ngoài nhà trường theo chương trình trung học cơ sở và tiểu học .

Điều 14. Hiệu trưởng trường trung học phổ thông chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý việc dạy thêm học thêm trong trường thuộc phạm vi quản lý và kết hợp với Sở, Phòng Giáo dục - Đào tạo kiểm tra các loại hình dạy thêm trong và ngoài nhà trường do giáo viên của trường tổ chức. Hiệu trưởng các trường tiểu học chịu trách nhiệm quản lý, kiểm tra việc tổ chức trông nom học sinh ngoài giờ học của giáo viên thuộc trường theo quy định tại khoản 1, điều 5, chương II Quy định này.

Điều 15. UBND và ban ngành các cấp có liên quan, các cơ sở giáo dục, giáo dục nghề có giảng viên, giáo viên dạy thêm các lớp (Trung tâm) theo chương trình phổ thông các cấp, dạy tin học, dạy ngoại ngữ do cá nhân hoặc tổ chức không có chức năng đào tạo chuyên ngành đó lập ra có trách nhiệm phối hợp cùng với Sở Giáo dục - Đào tạo, Phòng Giáo dục - Đào tạo tăng cường quản lý, kiểm tra việc dạy thêm, học thêm trên địa bàn phụ trách, đồng thời chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh trong việc quản lý các lớp dạy thêm này.

Chương VI

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 16. Tổ chức, cá nhân nào mở lớp dạy thêm nếu vi phạm các quy định về dạy thêm, học thêm tại Quyết định này thì tùy theo mức độ bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý theo pháp luật hiện hành.

Điều 17. Tất cả các lớp (Trung tâm) dạy thêm theo nhu cầu của người học có thu tiền đang hoạt động trước khi ban hành Quyết định này chỉ được phép hoạt động đến hết ngày 30/7/2004. Sau thời gian trên tất cả các lớp (Trung tâm) dạy thêm có thu tiền đều phải đăng ký và khi được cấp quản lý giáo dục có thẩm quyền cho phép mới được phép hoạt động.

Điều 18. Các cấp quản lý phối hợp với ban, ngành có liên quan kiểm tra các điều kiện theo điều 8 của quy định này để xem xét cho phép mở lớp dạy thêm; quản lý thống nhất các lớp dạy thêm theo nhu cầu của người học có thu tiền do tổ chức hoặc cá nhân mở trong hoặc ngoài nhà trường và cơ sở giáo dục khác; tăng cường kiểm tra hoạt động giảng dạy nhằm đảm bạo lợi ích của người học và trách nhiệm của người dạy; xử lý những người hành nghề trái phép hoặc được phép mở lớp nhưng không đảm bảo chất lượng giảng dạy, trình độ người dạy và cơ sở vật chất theo đăng ký.

Sở Giáo dục- Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với các địa phương, các ngành có liên quan tiếp tục tổ chức triển khai Chỉ thị 15/2000/CT-BGD&ĐT ngày 17/5/2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Quy định này trên địa bàn tỉnh Hậu Giang./.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 154/2004/QĐ-UB ban hành Quy định dạy thêm học thêm trên địa bàn tỉnh Hậu giang do Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành

Số hiệu: 154/2004/QĐ-UB
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 16/09/2004
Nơi ban hành: Tỉnh Hậu Giang
Người ký: Trịnh Quang Hưng
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 01/10/2004
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Giáo dục
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 154/2004/QĐ-UB ban hành Quy định d...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký