Quyết định 162-HĐBT được ban hành năm 1988 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm quy định một số chính sách, biện pháp cụ thể về dân số và kế hoạch hóa gia đình, hướng tới mục tiêu kiểm soát quy mô dân số và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Quyết định này quy định trách nhiệm của toàn xã hội, của mọi nam nữ công dân, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện công tác kế hoạch hóa dân số. Đối tượng áp dụng chi tiết bao gồm cán bộ, công nhân, viên chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cư dân đô thị, cư dân vùng đồng bằng, trung du và đồng bào các dân tộc thiểu số tại các vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
Quy định về số con, độ tuổi và khoảng cách sinh đẻ
- Số con tối đa của mỗi cặp vợ chồng:
- Sinh tối đa 2 con đối với: Cán bộ, công nhân, viên chức thuộc các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, chiến sĩ lực lượng vũ trang; gia đình ở thành phố, thị xã, khu kinh tế tập trung; gia đình ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng các tỉnh ven biển miền Trung và vùng trung du.
- Sinh tối đa 3 con đối với: Gia đình các dân tộc thiểu số tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
- Trường hợp tái hôn: Nếu cả hai vợ chồng đã có con riêng hoặc một người đã có con riêng, nay muốn có con chung thì chỉ được sinh thêm 1 con.
- Trường hợp đặc biệt: Sinh lần thứ nhất mà sinh đôi hoặc sinh ba thì không được sinh tiếp; trường hợp đã có 1 con, lần thứ hai sinh đôi hoặc sinh ba thì không bị coi là quá quy định. Gia đình đã có 2 con nhưng cả hai con đều bị dị tật thì được phép sinh con thứ ba.
- Độ tuổi sinh đẻ tối thiểu:
- Đối với khu vực thành phố, thị xã, khu kinh tế tập trung và các cặp vợ chồng là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang: Nữ từ đủ 22 tuổi trở lên, nam từ đủ 24 tuổi trở lên.
- Đối với các vùng khác: Nữ từ đủ 19 tuổi trở lên, nam từ đủ 21 tuổi trở lên.
- Khoảng cách giữa các lần sinh: Nếu sinh con thứ hai thì phải cách con thứ nhất từ 3 đến 5 năm. Riêng trường hợp người phụ nữ sinh con muộn (từ 30 tuổi trở lên) thì khoảng cách này có thể rút ngắn từ 2 đến 3 năm.
Đăng ký, quản lý và các biện pháp đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình
- Đăng ký và quản lý sinh đẻ: Các cặp vợ chồng đã có con (trừ người đã thôi đẻ) và các cặp vợ chồng mới kết hôn phải đăng ký với chính quyền địa phương hoặc cơ quan, đơn vị công tác và cam kết thực hiện đúng quy định về số con và độ tuổi sinh đẻ. Các cơ quan, đơn vị và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm theo dõi sát sao việc áp dụng biện pháp tránh thai và tình hình sinh đẻ của từng cặp vợ chồng thuộc phạm vi quản lý.
- Tuyên truyền và giáo dục: Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng về dân số và kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt chú trọng khu vực nông thôn. Đưa nội dung giáo dục dân số vào chương trình giảng dạy tại các trường phổ thông, đại học, trung học chuyên nghiệp và các trường đào tạo cán bộ.
- Kiện toàn tổ chức và dịch vụ y tế: Thành lập và củng cố hệ thống tổ chức làm công tác dân số các cấp với đội ngũ cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách. Ngành y tế có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ phương tiện, thuốc men, dụng cụ và cán bộ chuyên môn để thực hiện các dịch vụ tránh thai, nạo phá thai, hút điều hòa kinh nguyệt an toàn, thuận tiện và phù hợp với tập quán từng vùng.
- Bảo đảm kinh phí: Bộ Tài chính, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, các tổ chức kinh tế và Ủy ban nhân dân các cấp phải bố trí nguồn kinh phí thích đáng cho Ủy ban dân số cùng cấp hoạt động.
Chính sách khuyến khích và chế tài xử lý vi phạm
- Chính sách ưu đãi và hỗ trợ:
- Tiêu chuẩn xét cấp đất làm nhà và phân phối nhà ở ưu tiên cho gia đình có 2 con hoặc 1 con (gia đình có 1 con được hưởng tiêu chuẩn như gia đình 2 con).
- Nhà nước cấp miễn phí các phương tiện tránh thai (vòng tránh thai, bao cao su, thuốc tránh thai) và miễn phí dịch vụ y tế liên quan (đặt vòng, nạo phá thai, hút điều hòa kinh nguyệt) cho cán bộ, công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang, đối tượng chính sách và người nghèo có đăng ký thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
- Khuyến khích bán rộng rãi các dụng cụ tránh thai trên thị trường để người dân dễ dàng tiếp cận.
- Hỗ trợ y tế điều trị cho người vô sinh có nguyện vọng sinh con.
- Áp dụng chế độ khen thưởng để khuyến khích việc thôi đẻ bằng phương pháp thắt ống dẫn tinh hoặc thắt ống dẫn trứng.
- Biện pháp chế tài và hạn chế:
- Gia đình sinh con vượt quá số lượng quy định (kể cả số con đã sinh trước đó) phải trả tiền thuê nhà, thuê đất theo mức giá cao đối với phần diện tích xin cấp thêm.
- Nghiêm cấm việc nhập hộ khẩu cư trú vào các nội thành, nội thị và khu công nghiệp tập trung đối với các gia đình đã có từ 3 con trở lên.
- Các gia đình sinh con ngoài quy định phải đóng góp kinh phí bảo trợ xã hội (chi phí học tập, chữa bệnh của con) và tăng nghĩa vụ đóng góp lao động công ích cho xã hội.
- Việc hoàn thành chỉ tiêu dân số và kế hoạch hóa gia đình là một tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá, xét thi đua khen thưởng đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sản xuất kinh doanh.
- Các cặp vợ chồng vi phạm quy định về số con sẽ bị cơ quan quản lý trực tiếp xử phạt thích đáng theo quy định của pháp luật hiện hành.
Hiệu lực thi hành
Quyết định 162-HĐBT có hiệu lực thi hành sau 3 tháng kể từ ngày ký ban hành. Ủy ban Quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình, các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thi hành chi tiết quyết định này trong phạm vi, quyền hạn của mình.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 162-HĐBT | Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 1988 |
Để giảm nhanh tốc độ tăng dân số nước ta, trước mắt đạt tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vào năm 1990 là 1,7% như Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghị quyết của Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 2 đã ghi, Hội đồng Bộ trưởng quyết định một số vấn đề cụ thể sau đây về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình:
Điều 1. Thực hiện Công tác kế hoạch hoá dân số là trách nhiệm của toàn xã hội, của nam nữ công dân, trước tiên là trách nhiệm về chỉ đạo thường xuyên của các Bộ, Uỷ ban Nhân dân các cấp.
a) Những đối tượng và những người ở vùng dân cư sau đây được sinh tối đa là 2 con:
- Cán bộ, công nhân, viên chức các cơ quan của đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang.
- Gia đình ở thành phố, thị xã, khu kinh tế tập trung.
- Gia đình ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng các tỉnh ven biển miền trung, vùng trung du.
b) Gia đình các dân tộc các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam mỗi cặp vợ chồng cũng chỉ được sinh tối đa ba con
c) Những cặp vợ chồng tái hôn nếu cả vợ chồng đã có con riêng hay một người đã có con riêng nay muốn có con chung thì cũng chỉ được sinh 1 con.
d) Các trường hợp sinh lần thứ nhất mà sinh đôi, sinh 3 thì không được sinh nữa, các trường hợp đã có 1 con, sinh lần thứ 2 sinh đôi, sinh 3 đều không coi là quá quy định.
e) Người đã có 2 con nhưng 2 con đều bị dị tật thì được đẻ con thứ 3.
g) Gia đình cán bộ, lực lượng vũ trang, công nhân, viên chức nói ở đây là cả vợ chồng là cán bộ, công nhân, viên chức hoặc chỉ một người là cán bộ, công nhân, viên chức hay tham gia lực lượng vũ trang. Gia đình ở thành phố, thị xã, khu kinh tế tập trung là căn cứ theo chỗ ở của người mẹ.
a) Đối với các gia đình ở thành phố, thị xã khu kinh tế tập trung, các cặp vợ chồng là cán bộ, lực lượng vũ trang, công nhân, viên chức thì tuổi sinh đẻ của nữ là 22 tuổi trở lên, nam là 24 tuổi trở lên; ở các vùng khác nữ là 19 tuổi trở lên, nam là 21 tuổi trở lên.
b) Nếu sinh con thứ 2 thì phải sau con thứ nhất từ 3 đến 5 năm. Trường hợp người phụ nữ sinh con muộn sau 30 tuổi trở đi thì khoảng cách có thể từ 2 đến 3 năm.
a) Các cặp vợ chồng đã có con (trừ những cặp vợ chồng đã thôi đẻ) và các cặp vợ chồng mới kết hôn đều phải đăng ký với chính quyền địa phương và cam kết thực hiện đúng kế hoạch hoá gia đình theo quy định ở điều 2 và 3 trên đây. Cán bộ, công nhân, viên chức, chiến sỹ lực lượng vụ trang đăng ký tại cơ quan, đơn vị, nhân dân đăng ký tại Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn.
b) Các cơ quan, đơn vị, các Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn phải thường xuyên nắm cụ thể tình hình thực hiện các biện pháp tránh thai, tình hình sinh đẻ của từng cặp vợ chồng trong cơ quan, đơn vị, địa phương mình.
c) Các cơ quan, đơn vị đóng ở địa phương phải báo cáo tình hình kế hoạch hoá gia đình của cơ quan, đơn vị mình, chịu sự theo dõi, kiểm tra của Uỷ ban Nhân dân ở cơ sở và Ban chỉ đạo dân số và kế hoạch hoá gia đình của quận, huyện, thị xã, địa phương đó.
a) Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng bằng mọi hình thức mục đích, ý nghĩa về dân số và kế hoạch hoá gia đình, làm cho mọi người hiểu rõ lợi ích và trách nhiệm của mình để tự giác thực hiện. Chú trọng vùng nông thôn; thực hiện giáo dục dân số trong các trường phổ thông, trường đại học và chuyên nghiệp và các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
b) Kiện toàn hệ thống tổ chức làm công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở các cấp có đủ cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách; mỗi cơ quan, đơn vị phải phân công cán bộ phụ trách công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình.
c) Chuẩn bị đủ các phương tiện, dụng cụ, thuốc men và cán bộ chuyên môn y tế để đáp ứng kịp thời yêu cầu khám, chữa bệnh phụ khoa, dịch vụ các biện pháp kỹ thuật tránh thai, tránh đẻ. Tổ chức các cơ sở dịch vụ y tế thuận tiện cho nhân dân, hướng dẫn các biện pháp và các phương pháp tránh thai thích hợp với tập quán của mỗi vùng và thích hợp với từng người bảo đảm an toàn và hiệu quả về chuyên môn kỹ thuật.
d) Bộ Tài chính, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, các tổ chức kinh tế, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu, quận, huyện, thị xã cần bố trí kinh phí thích đáng cho Uỷ ban dân số cấp tương đương để có điều kiện làm tốt nhiệm vụ về dân số và kế hoạch hoá gia đình.
1. Từ nay một trong những tiêu chuẩn để xét cấp đất làm nhà và phân phối nhà ở là gia đình có 2 con.
Gia đình chỉ có một con cũng được hưởng tiêu chuẩn như gia đình 2 con.
Gia đình có số con quá quy định (kể cả số con đã sinh từ trước) phải trả tiền thuê nhà, thuê đất theo giá cao trên diện tích xin cấp thêm.
2. Từ nay không cho các gia đình đã có 3 con trở lên nhập vào cư trú ở các nội thành, nội thị và khu công nghiệp tập trung.
3. Những gia đình sinh con ngoài số quy định phải đóng góp kinh phí bảo trợ xã hội, bao gồm việc học và chữa bệnh và tăng mức đóng góp về lao động công ích xã hội.
5. Cho phép bán rộng rãi các dụng cụ tránh thai để thuận tiện cho mọi đối tượng cần sử dụng.
6. Người vô sinh nếu có nguyện vọng, được chữa bệnh để có con.
7. Nhà nước có chế độ khen thưởng để khuyến khích việc thôi đẻ bằng thắt ống dẫn tinh và thắt ống dẫn trứng.
8. Đối với cơ quan nhà nước cũng như đơn vị sản xuất kinh doanh, khi xem xét kết quả thực hiện kế hoạch, phải xét một tiêu chuẩn là hoàn thành các chỉ tiêu về dân số và kế hoạch hoá gia đình .
9. Đối với những cặp vợ chồng không thực hiện các điều quy định về số con, các cơ quan quản lý trực tiếp có hình thức xử phạt thích đáng phù hợp với pháp luật hiện hành.
Uỷ ban Quốc gia dân số và kế hoạch hoá gia đình, các Bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương dựa trên bản Quyết định này hướng dẫn thi hành cụ thể trong phạm vi trách nhiệm của mình.
|
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
- 1 Chỉ thị 37-TTg năm 1997 về đẩy nhanh thực hiện chiến lược dân Số- Kế hoạch hoá gia đình đến năm 2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2 Thông tư 47-BXD/XDCB-1989 hướng dẫn thực hiện ý kiến của Thường trực Hội đồng Bộ trưởng về việc hoá giá nhà cấp III, cấp IV tại các đô thị do Bộ Xây dựng ban hành
- 3 Thông báo 204/1998/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về ý kiến của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm về vấn đề "Thực hiện chỉ tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2000"
- 4 Nghị định 104/2003/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Dân số
- 1 Thông tư 39-BXD/XDCB/ĐT-1989 hướng dẫn thi hành Quyết định 162-HĐBT-1988 về một số chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình do Bộ Xây dựng ban hành
- 2 Chỉ thị 37-TTg năm 1997 về đẩy nhanh thực hiện chiến lược dân Số- Kế hoạch hoá gia đình đến năm 2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3 Thông tư 47-BXD/XDCB-1989 hướng dẫn thực hiện ý kiến của Thường trực Hội đồng Bộ trưởng về việc hoá giá nhà cấp III, cấp IV tại các đô thị do Bộ Xây dựng ban hành
- 4 Thông tư 19-BYT/TT năm 1991 hướng dẫn cải tiến phương thức phân phối phương tiện tránh thai do Bộ Y tế ban hành
- 5 Thông báo 204/1998/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về ý kiến của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm về vấn đề "Thực hiện chỉ tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2000"