Quyết định số 166-HĐBT được ban hành năm 1981 bởi Hội đồng Bộ trưởng, tập trung vào việc sửa đổi các khoản phụ cấp lương nhằm điều chỉnh chính sách tiền lương, hỗ trợ đời sống cho cán bộ, công nhân, viên chức trong bối cảnh kinh tế xã hội thời kỳ này.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Quyết định áp dụng đối với cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước, người lao động trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, xí nghiệp quốc doanh và các lực lượng vũ trang đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Các nội dung cốt lõi của Quyết định 166-HĐBT
- Điều chỉnh các khoản phụ cấp lương: Sửa đổi và bổ sung các khoản phụ cấp lương nhằm bù đắp một phần khó khăn về đời sống cho người lao động trước sự biến động của giá cả thị trường thời kỳ bấy giờ.
- Xác định đối tượng ưu tiên: Tập trung hỗ trợ các đối tượng trực tiếp sản xuất, lực lượng vũ trang và cán bộ, công nhân viên chức có mức thu nhập thấp hoặc làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm, đòi hỏi trách nhiệm cao.
- Nguyên tắc chi trả phụ cấp: Việc chi trả phụ cấp phải bảo đảm đúng đối tượng, đúng chế độ, gắn liền với hiệu quả công việc, năng suất lao động thực tế và khả năng cân đối ngân sách của nhà nước.
- Trách nhiệm triển khai thực hiện: Giao nhiệm vụ cho Bộ Lao động, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan phối hợp hướng dẫn chi tiết việc thực hiện quyết định này thống nhất trên phạm vi cả nước.
Hiệu lực thi hành
Quyết định 166-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành năm 1981. Các quy định trước đây của Hội đồng Chính phủ hoặc các bộ, ngành trái với quyết định này đều bị bãi bỏ.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 166-HĐBT | Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 1981 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 166-HĐBT NGÀY 25-12-1981 VỀ VIỆC BỔ SUNG, SỬA ĐỔI MỘT SỐ KHOẢN PHỤ CẤP LƯƠNG
Thực hiện điều 2 quyết định số 219-CP ngày 29-5-1981 của Hội đồng Chính phủ về việc sửa đổi một số khoản phụ cấp lương bất hợp lý;
Theo đề nghị của đồng chí bộ trưởng Bộ Lao động,
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG QUYẾT ĐỊNH
1. Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1982, các phụ cấp lương sau đây được giữ nguyên mức tỷ lệ phần trăm (%) quy định hiện hành và được tính trên lương cơ bản cộng với phụ cấp lương tạm thời.
- Phụ cấp khai thác mỏ (10%)
- Phụ cấp nghề rừng (10%)
- Phụ cấp bốc xếp (5% - 8% - 10%)
- Phụ cấp địa chất (10%)
- Phụ cấp tàu thuyền ra khơi đánh cá (10% - 20% - 30%)
- Phụ cấp nông nghiệp (5% - 8% - 10%).
- Phụ cấp công trường (10%)
- Phụ cấp lưu động công trường (5% - 8% - 10%)
- Phụ cấp sản xuất vật liệu xây dựng (10%)
- Phụ cấp sản xuất muối (8%)
- Phụ cấp dệt (8%)
- Phụ cấp nóng, độc hại (5% - 8% - 10%)
- Phụ cấp lò giếng, lò đá, lò ngang, lò chợ (10% - 15%)
- Phụ cấp lái xe ô tô trọng tải lớn, máy xúc gầu lớn (10% - 15% - 25%)
- Phụ cấp thác ghềnh, bè mảng (10% - 20% - 30%)
- Phụ cấp cho công nhân, cán bộ kỹ thuật không xếp lương theo thang lương của công nhân mỏ vào làm việc trong hầm lò (16% - 25%)
2. Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1982, nâng gấp 2 lần mức quy định hiện hành đối với 2 khoản phụ cấp:
- Phụ cấp thợ lặn
- Phụ cấp đặc biệt cho công nhân là việc trên cao.
3. Giao cho bộ trưởng Bộ Lao động cùng với bộ trưởng Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi chế độ công tác phí, phụ cấp lưu trú, và giải quyết hợp lý các mức phụ cấp lưu động thường xuyên của một số ngành nghề.
4. Đặt thêm hai mức phụ cấp khu vực 30% và 35% lương cơ bản. Căn cứ vào các mức phụ cấp khu vực, bộ trưởng Bộ Lao động sẽ điều chỉnh cho những vùng sinh hoạt có nhiều khó khăn và cần thu hút lao động để phát triển kinh tế.
5. Các đồng chí bộ trưởng Bộ Lao động và Bộ Tài chính ra văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể quyết định này.
|
| Tố Hữu (Đã ký) |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.