Quyết định 168-HĐBT được ban hành năm 1992 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 186-HĐBT ngày 27 tháng 11 năm 1989 về việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước. Quyết định này tập trung điều chỉnh các quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và cơ chế điều tiết tài chính giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương nhằm tăng cường tính chủ động cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Đối tượng áp dụng của Quyết định bao gồm các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện quản lý và điều hành ngân sách nhà nước.
Sửa đổi, bổ sung các nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương- Chi đầu tư xây dựng cơ bản: Bao gồm cả vốn quy hoạch khảo sát nhằm xây dựng các công trình thuộc hạ tầng cơ sở, công trình văn hoá, y tế, xã hội của địa phương. Quy định này không áp dụng đối với các công trình đầu tư cho định canh định cư và kinh tế mới. Các khoản chi này phải do Hội đồng Bộ trưởng xét duyệt (hoặc uỷ nhiệm cho Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Tài chính xét duyệt) dựa trên đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- Chi sự nghiệp: Bao gồm các khoản chi về sự nghiệp kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, xã hội, thể dục, thể thao do địa phương trực tiếp quản lý. Khoản chi này loại trừ chi cho sự nghiệp định canh định cư, sự nghiệp đưa dân đi và đón dân đến vùng kinh tế mới, cùng một số chương trình mục tiêu lớn của Nhà nước về giáo dục, y tế, dân số và kế hoạch hoá gia đình do Hội đồng Bộ trưởng quyết định.
- Chi quản lý hành chính: Sửa đổi phạm vi chi quản lý hành chính của địa phương bằng việc loại trừ kinh phí hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân ra khỏi danh mục chi của ngân sách địa phương.
Ngân sách địa phương được hưởng toàn bộ (100%) các khoản thu cố định sau đây phát sinh trên địa bàn:
- Thuế nhà, đất.
- Thuế môn bài.
- Thuế trước bạ.
- Thuế sát sinh.
- Thuế lợi tức (ngoại trừ thuế lợi tức của các đơn vị hạch toán toàn ngành và các khoản thu từ dầu thô).
- Các khoản thuế thu từ hoạt động xổ số kiến thiết.
- Thuế xuất nhập khẩu tiểu ngạch tại các tỉnh biên giới.
- Các khoản thu khác về thuế ngoài quốc doanh.
- Thu sử dụng vốn ngân sách của các xí nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý.
- Thu khấu hao cơ bản, thu hoàn vốn biến giá tài sản cố định và các khoản thu khác của xí nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý.
- Thu phí giao thông và tiền nuôi rừng.
- Thuế tài nguyên về rừng thu từ các đơn vị lâm nghiệp thuộc địa phương quản lý.
- Các khoản thu sự nghiệp của địa phương.
- Các khoản thu do nhân dân đóng góp tự nguyện và viện trợ nước ngoài trực tiếp cho địa phương.
- Các khoản thu khác của ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật.
- Bổ sung nguồn thu cân đối: Đối với những tỉnh có tổng số thu cố định nêu trên không đủ để trang trải các nhiệm vụ chi được giao, địa phương sẽ được bổ sung thêm tỷ lệ phần trăm về thuế doanh thu và thuế nông nghiệp để đảm bảo cân đối ngân sách.
- Phương thức chuyển trợ cấp: Căn cứ vào số trợ cấp đã được duyệt, Bộ Tài chính có trách nhiệm thoả thuận với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để phân chia số trợ cấp theo kế hoạch quý, sau đó thực hiện chuyển về cho địa phương thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước.
- Chính sách thưởng vượt thu: Vào thời điểm cuối năm, nếu tổng các khoản thu về thuế doanh thu và thuế nông nghiệp do Hội đồng Bộ trưởng giao cho địa phương trên địa bàn vượt kế hoạch (sau khi đã loại trừ các yếu tố tăng thu do biến động giá cả và trừ các khoản địa phương đã được hưởng 100%), địa phương sẽ được thưởng 50% số vượt thu thuộc phần của ngân sách trung ương. Khoản tiền thưởng này được dùng để chi thêm cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và cấp vốn lưu động cho các xí nghiệp địa phương hoạt động có hiệu quả.
Trong trường hợp địa phương không hoàn thành kế hoạch thu, chi ngân sách được giao do nguyên nhân chủ quan, địa phương phải chủ động thực hiện mọi biện pháp hợp pháp để tự cân đối ngân sách. Chỉ sau khi đã áp dụng tất cả các biện pháp mà vẫn không thể tự cân đối được, địa phương mới được phép tạm vay từ quỹ dự trữ tài chính của địa phương.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiệnQuyết định 168-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1992, áp dụng cho năm ngân sách 1992. Các quy định khác về phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương tại Nghị quyết 186-HĐBT ngày 27 tháng 11 năm 1989 không thuộc phạm vi sửa đổi, bổ sung của Quyết định này vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành.
Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Quyết định này. Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 168-HĐBT | Hà Nội , ngày 16 tháng 5 năm 1992 |
VỀ VIỆC SỬA ĐỔI BỔ SUNG NGHỊ QUYẾT 186-HĐBT NGÀY 27 THÁNG 11 NĂM 1989 CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG.
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ yêu cầu đổi mới một bước cơ chế quản lý kinh tế, tài chính trong thời gian tới;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Nay sửa đổi và bổ sung Nghị quyết 186-HĐBT ngày 27 tháng 11 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng như sau:
1. Điểm 1 của mục A Phần I được thay bằng điểm 1 mới sau đây:
"1 - Chi đầu tư xây dựng cơ bản (kể cả vốn quy hoạch khảo sát) nhằm xây dựng các công trình thuộc hạ tầng cơ sở, công trình văn hoá, y tế xã hội của địa phương (không kể các công trình đầu tư cho định canh định cư và kinh tế mới) do Hội đồng Bộ trưởng (hoặc uỷ nhiệm cho Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Tài chính) xét duyệt theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh".
2. Điểm 2 của mục A Phần 1 được thay thế bằng điểm 2 mới sau đây:
"2 - Chi về các sự nghiệp kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, xã hội, thể dục, thể thao do địa phương quản lý (không kể chi cho sự nghiệp định canh định cư sự nghiệp đưa dân đi, đón dân đến vùng kinh tế mới và một số chương trình mục tiêu lớn của Nhà nước về giáo dục, y tế, dân số và kế hoạch hoá gia đình do Hội đồng Bộ trưởng quyết định)".
3. Đoạn trong ngoặc đơn của điểm 3 mục A Phần I được thay bằng đoạn:
"(Không kể Viện Kiểm sát nhân dân)".
4. Điểm 1 của mục B Phần I được thay bằng điểm 1 mới sau đây:
"1 - Các khoản thu cố định để lại toàn bộ cho ngân sách địa phương:
- Thuế nhà, đất.
- Thuế môn bài.
- Thuế trước bạ.
- Thuế sát sinh.
- Thuế lợi tức (trừ lợi tức của các đơn vị hạch toán toàn ngành và các khoản thu từ dầu thô).
- Các khoản thuế thu về hoạt động xổ số kiến thiết.
- Thuế xuất nhập khẩu tiểu ngạch ở các tỉnh biên giới.
- Các khoản thu khác về thuế ngoài quốc doanh.
- Thu sử dụng vốn ngân sách của xí nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý.
- Thu khấu hao cơ bản, thu hoàn vốn biến giá tài sản cố định và thu khác của xí nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý.
- Thu phí giao thông.
- Tiền nuôi rừng.
- Thuế tài nguyên về rừng của các đơn vị lâm nghiệp địa phương.
- Các khoản thu sự nghiệp của địa phương.
- Thu do nhân dân đóng góp tự nguyện và viện trợ nước ngoài cho địa phương.
- Thu khác của ngân sách địa phương".
5. Điểm 2 của mục B Phần I được thay bằng điểm 2 mới sau đây:
"2 - Đối với những tỉnh có số thu cố định (nêu trên) không đủ cho nhiệm vụ chi được giao thì được bổ sung thêm về thuế doanh thu và thuế nông nghiệp để đảm bảo đủ chi".
6. Thêm vào cuối điểm 3 mục B Phần I một đoạn như sau: "Căn cứ số trợ cấp được duyệt, Bộ Tài chính thoả thuận với Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, phân chia số trợ cấp theo kế hoạch quý và chuyển về cho địa phương qua hệ thống Kho bạc Nhà nước".
7. Bổ sung vào cuối tiết a điểm 6 Phần II một đoạn sau đây:
"Nếu cuối năm, tổng các khoản thu về thuế doanh thu và thuế nông nghiệp do Hội đồng Bộ trưởng giao cho địa phương trên địa bàn (trừ những khoản địa phương đã được hưởng 100% vượt kế hoạch thì sau khi loại trừ yếu tố tăng do biến động giá, địa phương được thưởng 50% số vượt phần của ngân sách trung ương để chi thêm cho xây dựng cơ sở hạ tầng và cấp vốn lưu động cho các xí nghiệp địa phương làm ăn có hiệu quả".
8. Tiết c điểm 6 Phần II được sửa lại như sau:
"Trường hợp do nguyên nhân chủ quan mà không hoàn thành kế hoạch thu, chi ngân sách được giao, địa phương phải tìm mọi biện pháp mà pháp luật cho phép để tự cân đối ngân sách. Sau khi đã tận dụng mọi khả năng mà vẫn không cân đối được ngân sách, thì địa phương mới được tạm vay quỹ dự trữ tài chính địa phương".
Điều 2. Các điểm đã quy định tại Nghị quyết 186-HĐBT ngày 27 tháng 11 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng về phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương không nằm trong diện sửa đổi, bổ sung của Quyết định này vẫn có hiệu lực thi hành.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1992 (năm ngân sách 1992). Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Quyết định này.
Điều 4. Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã Ký) |