Quyết định số 175/2003/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt "Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010" nhằm định hướng phát triển toàn diện, an toàn và lành mạnh thị trường bảo hiểm Việt Nam trong giai đoạn mới.
Chiến lược này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam, cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thị trường bảo hiểm.
Mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm
Chiến lược đề ra mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam một cách toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và người dân. Đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, chiến lược hướng tới nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Nhà nước thực hiện quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế.
Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu đến năm 2010
- Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng trưởng bình quân khoảng 24%/năm; trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm.
- Tỷ trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP đạt mức 2,5% vào năm 2005 và nâng lên đạt 4,2% vào năm 2010.
- Đến năm 2010, tổng dự phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng khoảng 12 lần và tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế tăng khoảng 14 lần so với năm 2002.
- Tạo công ăn việc làm cho khoảng 150.000 người vào năm 2010; số nộp ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2003 - 2010 tăng trưởng bình quân 20%/năm.
Các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm bảo đảm thị trường phát triển lành mạnh, an toàn, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế, đồng thời bảo đảm tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp.
- Nhà nước ban hành chính sách khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ, ưu tiên phát triển các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có tính chất đầu tư dài hạn; khuyến khích nghiên cứu triển khai các sản phẩm bảo hiểm nông, lâm, ngư nghiệp và chú trọng mở rộng phạm vi hoạt động đến các vùng sâu, vùng xa.
- Phát triển mạng lưới đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và các kênh phân phối khác. Đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, trong đó Nhà nước không trực tiếp đầu tư thêm vốn vào lĩnh vực môi giới bảo hiểm.
- Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm thành lập quỹ đầu tư, quỹ tín thác và công ty quản lý quỹ theo quy định pháp luật. Áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cho các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng phí bảo hiểm thu được để đầu tư tại Việt Nam tương tự như các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước.
- Xây dựng cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp bảo hiểm tự bổ sung vốn điều lệ phù hợp với tính chất hoạt động và quy mô kinh doanh.
- Khuyến khích hiện đại hóa công nghệ quản lý kinh doanh, đào tạo đội ngũ cán bộ theo chuẩn mực quốc tế và cho phép thuê chuyên gia trong và ngoài nước để quản lý một số lĩnh vực hoạt động theo quy định.
Giải pháp về tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm
- Sắp xếp lại các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước hiện có để nâng cao năng lực kinh doanh, phát triển sản phẩm mới và mở rộng thị phần. Cho phép các thành phần kinh tế không thuộc kinh tế nhà nước có đủ điều kiện theo Luật Kinh doanh bảo hiểm được thành lập công ty cổ phần bảo hiểm.
- Nghiêm cấm các doanh nghiệp nhà nước sử dụng vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp bảo hiểm mới hoặc góp vốn thành lập công ty cổ phần bảo hiểm mang tính chuyên ngành.
- Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở rộng nội dung, phạm vi hoạt động và tăng vốn điều lệ nếu đáp ứng đủ điều kiện pháp luật.
- Việc cấp phép thành lập cho các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài phải phù hợp với quy mô, yêu cầu phát triển của thị trường, lộ trình hội nhập và các cam kết quốc tế, ưu tiên các công ty từ các nước có quan hệ thương mại, đầu tư lớn với Việt Nam, có năng lực tài chính mạnh và trình độ công nghệ cao.
- Khuyến khích doanh nghiệp trong nước mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường quốc tế và khu vực, tham gia góp vốn vào các công ty bảo hiểm, môi giới, tái bảo hiểm ở nước ngoài hoặc thành lập công ty con tại nước ngoài.
Nâng cao vai trò quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện
- Đổi mới phương thức và nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo hướng tiếp cận các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế. Thực hiện giám sát thông qua hệ thống chỉ tiêu hoạt động và kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật, tuyệt đối không can thiệp hành chính vào hoạt động của doanh nghiệp.
- Kiện toàn bộ máy tổ chức của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam để phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp bảo hiểm và cơ quan quản lý nhà nước.
- Giao Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chính trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm từ năm 2003 đến năm 2010. Các Bộ liên quan phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện phương án sắp xếp lại các doanh nghiệp bảo hiểm trực thuộc.
Hiệu lực thi hành
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 175/2003/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 29 tháng 8 năm 2003 |
THỦ TUỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Kinh doanh bảo hiểm ngày 09 tháng 12 năm 2000;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính tại tờ trình số 43/TTr-BTC ngày 07 tháng 5 năm 2003 và công văn số 7813 TC/TCNH ngày 29 tháng 7 năm 2003,
QUYẾT ĐỊNH:
Phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư; bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Nhà nước quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế.
a) Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm; trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm. Tỷ trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm 2005 và 4,2% năm 2010.
Đến năm 2010, tổng dự phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng khoảng 12 lần; tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế tăng khoảng 14 lần so với năm 2002.
b) Tạo công ăn việc làm cho khoảng 150.000 người vào năm 2010. Nộp ngân sách Nhà nước giai đoạn 2003 - 2010 tăng bình quân 20%/năm.
a) Về cơ chế chính sách
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm để thị trường phát triển lành mạnh, an toàn, phù hợp với yêu cầu hội nhập; bảo đảm tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm.
- Nhà nước có chính sách khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ, ưu tiên phát triển các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có tính chất đầu tư dài hạn; khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm nghiên cứu triển khai các sản phẩm bảo hiểm nông, lâm, ngư nghiệp; chú trọng mở rộng phạm vi hoạt động đến các vùng sâu, vùng xa.
- Phát triển mạng lưới đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và các kênh phân phối khác. Đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, Nhà nước không trực tiếp đầu tư thêm vốn vào lĩnh vực môi giới bảo hiểm.
- Doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập quỹ đầu tư, quỹ tín thác và công ty quản lý quỹ theo quy định của pháp luật. Các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng phí bảo hiểm thu được để đầu tư tại Việt Nam được áp dụng các cơ chế, chính sách về đầu tư như các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước.
- Nhà nước có cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp bảo hiểm tự bổ sung vốn điều lệ cho phù hợp với tính chất hoạt động và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm hiện đại hoá công nghệ quản lý kinh doanh, đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ trình độ theo các chuẩn mực quốc tế, được thuê chuyên gia trong nước và ngoài nước để quản lý một số lĩnh vực hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.
b) Về tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp
- Sắp xếp các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước hiện có, bảo đảm nâng cao năng lực kinh doanh, phát triển các sản phẩm bảo hiểm, mở rộng thị phần, thị trường. Các thành phần kinh tế không thuộc kinh tế nhà nước có đủ các điều kiện theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, được thành lập công ty cổ phần bảo hiểm.
Các doanh nghiệp nhà nước không được sử dụng vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp bảo hiểm mới và góp vốn thành lập công ty cổ phần bảo hiểm mang tính chuyên ngành.
- Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở rộng nội dung, phạm vi hoạt động, tăng vốn điều lệ, nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Việc cấp phép thành lập cho các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phải phù hợp với quy mô, yêu cầu phát triển của thị trường, lộ trình hội nhập và các cam kết quốc tế. Chú trọng đến các công ty bảo hiểm thuộc các nước có quan hệ thương mại và đầu tư với Việt Nam, các công ty có năng lực tài chính, trình độ công nghệ, kinh nghiệm hoạt động bảo hiểm và có đóng góp vào sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.
- Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh, kể cả ở thị trường bảo hiểm quốc tế và khu vực, tham gia góp vốn vào các công ty bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, tái bảo hiểm đang hoạt động thành công ở nước ngoài và thành lập các công ty con kinh doanh bảo hiểm ở nước ngoài.
c) Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước
- Đổi mới phương thức và nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tiến dần tới thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực quản lý bảo hiểm quốc tế. Nhà nước giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông qua hệ thống các chỉ tiêu về hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật, không can thiệp hành chính vào hoạt động của các doanh nghiệp.
- Kiện toàn bộ máy tổ chức của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam để Hiệp hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp bảo hiểm và các cơ quan quản lý nhà nước.
1. Giao Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm từ năm 2003 đến năm 2010 đã được phê duyệt.
2. Các Bộ liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện các phương án sắp xếp lại những doanh nghiệp bảo hiểm trực thuộc theo các quy định pháp luật hiện hành và Chiến lược đã được phê duyệt.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |