Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Quyết định số 198/2001/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt "Chương trình An toàn truyền máu" giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010. Đây là một chính sách y tế quốc gia quan trọng nhằm từng bước cung cấp máu và các sản phẩm máu có chất lượng, an toàn phục vụ nhu cầu cấp cứu, điều trị, dự phòng thảm họa, đồng thời bảo đảm nguồn máu dự trữ chiến lược cho an ninh và quốc phòng.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Chương trình được triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ năm 2001 đến năm 2010, chia làm 3 giai đoạn (Giai đoạn 1: 2001 - 2003; Giai đoạn 2: 2004 - 2006; Giai đoạn 3: 2007 - 2010). Đối tượng áp dụng bao gồm Bộ Y tế (cơ quan quản lý chương trình), các Bộ, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ sở y tế, bệnh viện từ trung ương đến địa phương, cùng các tổ chức xã hội và người dân tham gia hiến máu nhân đạo.

Mục tiêu cụ thể của Chương trình An toàn truyền máu

Quyết định đề ra các chỉ tiêu định lượng và định tính rất cụ thể nhằm hiện đại hóa hoạt động truyền máu tại Việt Nam:

  • Chỉ tiêu thu gom máu: Phấn đấu thu gom toàn quốc đạt 180.000 lít máu/năm vào năm 2005 (đáp ứng 50% nhu cầu điều trị) và nâng lên 380.000 lít máu/năm vào năm 2010 (đáp ứng trên 90% nhu cầu).
  • Cơ cấu nguồn người hiến máu: Chuyển dịch mạnh mẽ sang nguồn người cho máu tình nguyện không lấy tiền, đạt tỷ lệ 50% vào năm 2005 và trên 70% vào năm 2010. Kiên quyết loại trừ việc lấy máu từ nhóm đối tượng có nguy cơ cao, khuyến khích người hiến máu nhắc lại.
  • Sàng lọc bệnh truyền nhiễm: Bảo đảm 100% đơn vị máu (mỗi đơn vị tương đương 250 ml) trước khi truyền phải được sàng lọc đủ 5 bệnh nhiễm trùng nguy hiểm bao gồm: HIV, viêm gan B, viêm gan C, giang mai và sốt rét. Đồng thời, thực hiện định nhóm máu ABO, Rh và sàng lọc kháng thể bất thường trước truyền máu tại 100% bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh.
  • Sản xuất chế phẩm máu: Đạt tỷ lệ truyền máu từng phần (sử dụng các sản phẩm tách chiết từ máu) ở mức 50% vào năm 2005 và nâng lên 70% vào năm 2010 trên tổng số máu thu được.
  • Chuẩn hóa trung tâm truyền máu: Đến năm 2005, chuẩn hóa các sản phẩm máu đạt tiêu chuẩn quốc tế tại 3 trung tâm lớn là Hà Nội, Huế và TP. Hồ Chí Minh. Đến năm 2010, mở rộng chuẩn hóa tại các trung tâm khu vực khác như Cần Thơ, Đắc Lắc, Thái Nguyên, Sơn La, Hải Phòng, Nghệ An, Phú Thọ, Khánh Hòa.

Các giải pháp chủ yếu thực hiện chương trình

Để hoàn thành các mục tiêu trên, Chính phủ yêu cầu triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

  • Tổ chức hệ thống truyền máu quốc gia: Xây dựng hệ thống theo hướng tập trung và hiện đại hóa trên cả 3 lĩnh vực: vận động hiến máu, ngân hàng máu và sử dụng máu. Ưu tiên phát triển ngân hàng máu cấp tỉnh và khu vực để cung cấp máu chất lượng cao cho tất cả các bệnh viện trong địa bàn, bao gồm cả bệnh viện tuyến huyện.
  • Xã hội hóa công tác vận động hiến máu: Thực hiện theo Quyết định số 43/2000/QĐ-TTg nhằm tăng nguồn người hiến máu an toàn. Tăng cường phối hợp giữa trung ương và địa phương, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng.
  • Đổi mới kỹ thuật và trang thiết bị: Nâng cấp công nghệ thu gom, sàng lọc bệnh nhiễm trùng, sản xuất chế phẩm, bảo quản và phân phối máu an toàn.
  • An toàn truyền máu tại bệnh viện: Lập kế hoạch nhu cầu máu hàng năm, hướng dẫn sử dụng máu hợp lý, tiết kiệm và kiểm tra nghiêm ngặt quy chế an toàn truyền máu tại giường bệnh.
  • Đào tạo và quản lý chất lượng: Đào tạo đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên sử dụng thành thạo trang thiết bị hiện đại. Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Truyền máu năm 1992 cho phù hợp thực tế và thông lệ quốc tế. Phân cấp quản lý ngân hàng máu theo 3 tuyến (Trung ương, tỉnh, huyện) và thiết lập hệ thống kiểm tra chất lượng từ trung ương xuống cơ sở.
  • Phát triển đơn vị đầu ngành: Xây dựng Viện Huyết học - Truyền máu Hà Nội thành viện đầu ngành của Bộ Y tế để chỉ đạo chuyên môn, đào tạo nhân lực và bảo đảm cung cấp đủ máu an toàn cho khu vực Thủ đô.

Nguồn vốn đầu tư

Kinh phí thực hiện chương trình được huy động từ nhiều nguồn bao gồm: Ngân sách Nhà nước; Viện trợ ODA; Vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước; Kinh phí thu hồi và các nguồn hợp pháp khác. Hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Y tế để bố trí và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định kinh phí cụ thể.

Phân công trách nhiệm thực hiện

  • Bộ Y tế: Chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức triển khai chương trình; xây dựng hệ thống truyền máu toàn quốc; chỉ đạo các đơn vị xây dựng dự án trình duyệt; tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện an toàn truyền máu và sử dụng máu hợp lý tại các bệnh viện.
  • Bộ Văn hóa - Thông tin và Bộ Giáo dục - Đào tạo: Chịu trách nhiệm tuyên truyền rộng rãi về phong trào hiến máu nhân đạo trong nhân dân và học sinh, sinh viên.
  • Các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp: Phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế thực hiện tốt chương trình. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Chữ thập đỏ, Hội Liên hiệp Thanh niên các cấp tích cực phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia hiến máu.

Hiệu lực thi hành

Quyết định 198/2001/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 198/2001/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2001

 

QUYẾT ĐỊNH

CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 198/2001/QĐ-TTG NGÀY 28 THÁNG 12 NĂM 2001 VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT CHƯƠNG TRÌNH AN TOÀN TRUYỀN MÁU

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 30 tháng 6 năm 1989;
Căn cứ Nghị quyết số 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá;
Để cung cấp đầy đủ máu và các sản phẩm máu có chất lượng tốt cho nhu cầu điều trị;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Phê duyệt "Chương trình An toàn truyền máu" với các nội dung chủ yếu sau:

1. Tên chương trình: Chương trình An toàn truyền máu

2. Thời gian thực hiện: từ năm 2001 đến năm 2010, được chia thành 3 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: từ năm 2001 đến năm 2003.

Giai đoạn 2: từ năm 2004 đến năm 2006.

Giai đoạn 3: từ năm 2007 đến năm 2010.

Kết thúc mỗi giai đoạn đều có sơ kết và kết thúc chương trình có tổng kết, đánh giá hiệu quả chương trình.

3. Cơ quan quản lý chương trình: Bộ Y tế

4. Mục tiêu chương trình:

a. Mục tiêu chung:

Từng bước cung cấp máu và các sản phẩm máu có chất lượng và an toàn cho nhu cầu cấp cứu, điều trị, dự phòng các thảm hoạ; có đủ máu dự trữ cho nhu cầu an ninh, quốc phòng; sử dụng máu và chế phẩm máu hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm - góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh, tăng cường hợp tác và đầu tư quốc tế.

b. Mục tiêu cụ thể:

- Phấn đấu đáp ứng nhu cầu về máu và các sản phẩm máu cho điều trị, có đủ máu dự trữ cho an ninh, quốc phòng và thảm họa..., với các chỉ tiêu: toàn quốc thu gom 180.000 lít máu/ năm (đáp ứng 50% nhu cầu vào năm 2005) và 380.000 lít máu/năm (đáp ứng trên 90% nhu cầu vào năm 2010).

- Thay đổi cơ bản cơ cấu nguồn người cho máu. Người cho máu tình nguyện không lấy tiền đạt 50% (vào năm 2005) và trên70% (vào năm 2010). Loại trừ lấy máu ở nhóm người nguy cơ cao, khuyến khích cho máu nhắc lại, nâng cao sức khoẻ người cho máu.

- Bảo đảm trên phạm vi toàn quốc 100% đơn vị máu (đơn vị máu = 250 ml) trước khi truyền được sàng lọc đủ 5 bệnh nhiễm trùng: HIV, viêm gan B, viêm gan C, giang mai, sốt rét. Bảo đảm định nhóm máu ABO, Rh, sàng lọc kháng thể bất thường trước truyền máu ở 100% các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh.

- Đến năm 2005 sản xuất được các sản phẩm máu, thực hiện truyền máu từng phần đạt 50% và đến năm 2010 đạt 70% tổng số máu thu được. Đến năm 2005 chuẩn hoá các sản phẩm máu đạt tiêu chuẩn quốc tế ở 3 trung tâm: Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh và đến năm 2010 ở các trung tâm: Cần Thơ, Đắc Lắc, Thái Nguyên, Sơn La, Hải Phòng, Nghệ An, Phú Thọ, Khánh Hòa và các trung tâm khác.

- Nâng cao chất lượng an toàn truyền máu tại bệnh viện bao gồm chỉ định sử dụng máu và các sản phẩm máu hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm.

5. Các giải pháp chính để thực hiện mục tiêu:

a) Tổ chức và xây dựng hợp lý hệ thống truyền máu quốc gia theo hướng tập trung và hiện đại trên 3 lĩnh vực: vận động hiến máu, ngân hàng máu và sử dụng máu. Ưu tiên xây dựng ngân hàng máu tỉnh và khu vực để có đủ khả năng cung cấp máu có chất lượng cao và an toàn cho các bệnh viện trong tỉnh/khu vực, bao gồm cả bệnh viện huyện.

b) Xã hội hoá công tác vận động hiến máu tự nguyện theo Quyết định số 43/2000/QĐ-TTg ngày 07/04/2000 của Thủ tướng Chính phủ để tăng nguồn người cho máu an toàn. Tăng cường hoạt động lồng ghép và phối hợp với các chương trình, các tổ chức quần chúng. Hợp tác giữa trung ương và địa phương, phát huy trách nhiệm đóng góp và xây dựng của địa phương và chương trình An toàn truyền máu.

c) Đổi mới trang bị, kỹ thuật nhằm nâng cao số lượng và chất lượng thu gom máu, sàng lọc bệnh nhiễm trùng, sản xuất các sản phẩm máu, bảo quản và phân phối máu an toàn cho các bệnh viện trong tỉnh/ khu vực.

d) Xây dựng hệ thống an toàn truyền máu bệnh viện, lập kế hoạch về nhu cầu cung cấp máu hàng năm, hướng dẫn sử dụng hợp lý máu và các sản phẩm máu, kiểm tra các quy chế an toàn truyền máu bệnh viện, bảo đảm an toàn truyền máu tại giường bệnh.

đ) Đào tạo cán bộ, kỹ thuật viên có trình độ và tay nghề về an toàn truyền máu, bảo đảm sử dụng thành thạo các trang bị và kỹ thuật hiện đại. Chuẩn hoá các trang bị, kỹ thuật, các sản phẩm máu, các sinh phẩm sử dụng cho Ngân hàng máu.

e) Nâng cao chất lượng quản lý hệ thống an toàn truyền máu toàn quốc, bao gồm:

- Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Truyền máu (ban hành năm 1992) cho phù hợp với tình hình truyền máu trong nước và thông lệ quốc tế giai đoạn 2001 - 2010.

- Phân cấp quản lý Ngân hàng máu theo 3 tuyến: Trung ương, tỉnh, huyện.

- Xây dựng hệ thống kiểm tra chất lượng an toàn truyền máu từ Trung ương xuống tuyến huyện, nhằm chuẩn hoá các trang bị - kỹ thuật - sinh phẩm chẩn đoán và sản phẩm máu đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế.

g) Tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới, các tổ chức quốc tế nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học.

h) Xây dựng Viện Huyết học - Truyền máu Hà Nội thành viện đầu ngành của Bộ Y tế để chỉ đạo chuyên môn, đào tạo cán bộ về Huyết học - Truyền máu, đồng thời bảo đảm cung cấp đủ máu an toàn, chất lượng cao cho nhu cầu điều trị của khu vực Thủ đô.

i) Tăng cường trách nhiệm, sự đóng góp và hợp tác của các Bộ, ngành, chính quyền các cấp trong quá trình thực hiện chương trình và duy trì tính bền vững của chương trình sau khi kết thúc.

6. Kinh phí đầu tư:

Kinh phí đầu tư từ các nguồn vốn:

a) Ngân sách Nhà nước.

b) Viện trợ ODA.

c) Vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước.

d) Kinh phí thu hồi.

đ) Các nguồn kinh phí khác.

Điều 2: Hàng năm, Bộ Kế hoạch - Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Y tế bố trí kinh phí để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Điều 3: Bộ Y tế có trách nhiệm:

1. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức triển khai thực hiện "Chương trình An toàn truyền máu", bảo đảm cung cấp đủ máu và sản phẩm máu có chất lượng tốt cho cấp cứu, điều trị và dự trữ đủ máu phục vụ cho nhu cầu an ninh, quốc phòng, thảm họa.

2. Tổ chức và xây dựng hợp lý hệ thống truyền máu toàn quốc từ trung ương đến huyện.

3. Chỉ đạo các đơn vị xây dựng các dự án trình duyệt theo quy định hiện hành

4. Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về an toàn truyền máu và sử dụng hợp lý máu, sản phẩm máu tại bệnh viện.

Điều 4: Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Giáo dục - Đào tạo có trách nhiệm truyên truyền rộng rãi về cho máu nhân đạo. Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp phối hợp với Bộ Y tế thực hiện tốt "Chương trình An toàn truyền máu". Đề nghị Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, Hội Chữ Thập đỏ, Hội Liên hiệp thanh niên các cấp phối hợp với các Bộ, ngành trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia cho máu nhân đạo.

Điều 5: Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành.

Điều 6: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

 

 

Phan Văn Khải

(Đã ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 198/2001/QĐ-TTg phê duyệt chương trình an toàn truyền máu do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 198/2001/QĐ-TTg
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 28/12/2001
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: 31/01/2002
Số công báo: Số 4
Ngày hiệu lực: 12/01/2002
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thể thao - Y tế
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 198/2001/QĐ-TTg phê duyệt chương t...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký