Tóm tắt Quyết định 229/2006/QĐ-TTg về quy hoạch xây dựng công sở cơ quan hành chính nhà nước các cấp
Quyết định 229/2006/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành là văn bản pháp lý quan trọng, đặt ra các tiêu chuẩn, yêu cầu và định hướng chi tiết cho việc quy hoạch, xây dựng mới cũng như cải tạo hệ thống công sở của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương. Mục tiêu của Quyết định nhằm khắc phục tình trạng manh mún, phân tán, hướng tới xây dựng một nền hành chính hiện đại, tập trung và hiệu quả.
- Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Quyết định này áp dụng đối với công sở của các cơ quan hành chính nhà nước ở cả 4 cấp, bao gồm:
- Công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp Bộ.
- Công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh.
- Công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện.
- Công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp xã (bao gồm cả phường và thị trấn).
- Các yêu cầu chung về quy hoạch xây dựng công sở
Quy hoạch công sở phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung và đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Sự phù hợp: Phải hoàn toàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu sử dụng thực tế và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng, miền cụ thể.
- Tính tập trung: Khắc phục triệt để tình trạng công sở bị phân tán, manh mún, gây khó khăn cho công tác quản lý và giao dịch.
- Tính thuận tiện: Tạo điều kiện tối đa để người dân, các cơ quan, tổ chức dễ dàng tiếp cận, thực hiện giao dịch hành chính và tiếp thu các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Hiệu quả làm việc: Tạo dựng môi trường làm việc văn minh, thuận lợi cho cán bộ, công chức, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Yêu cầu về vị trí và diện tích khu đất xây dựng
Việc lựa chọn địa điểm và quy mô đất đai để xây dựng công sở phải đáp ứng các tiêu chí:
- Phải phù hợp với quy hoạch xây dựng chung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Diện tích đất phải tương thích với nhu cầu sử dụng thực tế và quỹ đất hiện có của từng địa phương.
- Vị trí xây dựng phải có hệ thống giao thông thuận tiện, hạ tầng kỹ thuật khu vực đồng bộ, đảm bảo thông tin liên lạc hiện đại.
- Đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về vệ sinh, bảo vệ môi trường và đặc biệt phải có khả năng dự phòng để mở rộng diện tích trong tương lai khi có nhu cầu.
- Yêu cầu về quy hoạch tổng mặt bằng
Quy hoạch tổng thể mặt bằng công sở phải thể hiện tầm nhìn hiện đại và khoa học:
- Bố cục không gian kiến trúc phải hiện đại, mật độ xây dựng hợp lý, hài hòa với cảnh quan xung quanh và đóng góp tích cực vào diện mạo kiến trúc đô thị.
- Các công trình xây dựng bắt buộc phải có khoảng lùi phù hợp theo quy chuẩn.
- Khuôn viên bên trong phải được bố trí khoa học các hạng mục phụ trợ như: sân, đường nội bộ, bãi đỗ xe, vườn hoa, cây xanh. Thiết kế phải đảm bảo xe cứu hỏa dễ dàng tiếp cận khi xảy ra sự cố cháy nổ.
- Phải có hệ thống hàng rào bao quanh, cổng và phòng trực bảo vệ để bảo đảm an ninh tuyệt đối.
- Khuyến khích thiết kế và xây dựng các công trình nhiều tầng nhằm tiết kiệm tối đa quỹ đất hành chính.
- Yêu cầu quy hoạch cụ thể đối với công sở xây dựng mới
Quyết định phân định rõ phương án quy hoạch xây dựng mới cho từng cấp hành chính:
- Đối với cấp Bộ: Bố trí riêng biệt hoặc tập trung thành một khu gồm nhiều cơ quan có mối liên hệ mật thiết về chức năng. Vị trí xây dựng phải tiếp giáp trực tiếp với các tuyến giao thông chính của đô thị.
- Đối với cấp tỉnh:
- Trụ sở Ủy ban nhân dân (UBND) và Hội đồng nhân dân (HĐND) được bố trí tại khu vực trung tâm, trong cùng một khuôn viên, kết hợp sân vườn, cây xanh để tạo thành một quần thể kiến trúc hài hòa, đóng vai trò là trung tâm hành chính của đô thị.
- Các cơ quan chuyên môn (Sở, ban, ngành) có mối quan hệ chức năng sẽ được hợp khối thành liên cơ quan, bố trí trong cùng một khuôn viên hoặc tại các vị trí thích hợp trong đô thị để tạo thành khu hành chính tập trung.
- Đối với cấp huyện:
- Bố trí tại khu vực trung tâm, đưa UBND, HĐND và các cơ quan chuyên môn vào chung một khuôn viên theo hướng hợp khối liên cơ quan để tạo thành trung tâm hành chính đô thị.
- Trường hợp bố trí các cơ quan chuyên môn ở khối riêng thì phải đặt xung quanh nhưng không chung khuôn viên với UBND và HĐND.
- Quy hoạch mặt bằng cần chú trọng tạo ra không gian quảng trường trung tâm cho đô thị.
- Đối với cấp xã, phường, thị trấn:
- Trụ sở làm việc phải là nơi tập trung của Đảng ủy, HĐND, UBND và các đoàn thể, đặt tại vị trí trung tâm, thuận lợi cho công tác quản lý địa bàn.
- Đối với xã: Quy hoạch công sở gắn liền với các công trình văn hóa và không gian chức năng khác để tạo thành cụm công trình khang trang, đại diện cho bộ mặt của xã.
- Đối với phường, thị trấn: Trụ sở UBND và HĐND bố trí chung một khuôn viên, có sân và bãi đỗ xe thuận tiện cho người dân đến giao dịch.
- Yêu cầu quy hoạch cụ thể đối với công sở hiện có
Đối với hệ thống công sở đang hoạt động, việc xử lý được chia làm hai trường hợp:
- Giữ lại cải tạo: Những công sở hiện có ở vị trí thuận lợi, đủ diện tích đất và bảo đảm hạ tầng kỹ thuật sẽ được giữ lại để tiến hành cải tạo, nâng cấp theo hướng hiện đại hóa.
- Xây dựng mới tập trung: Những công sở là nhà tiếp quản sau năm 1954 và năm 1975, hoặc xây dựng từ cuối những năm 1950, trong thập niên 1960 trở về sau mà không đủ diện tích, nằm rải rác, giao thông không thuận lợi, hạ tầng yếu kém thì phải di dời, đầu tư xây dựng mới thành các khu hành chính tập trung theo quy hoạch được duyệt.
- Trách nhiệm triển khai của các cơ quan liên quan
Để quyết định đi vào thực tiễn, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành và địa phương:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính cân đối, bố trí nguồn vốn đầu tư xây dựng mới, cải tạo công sở cấp Bộ và hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương.
- Bộ Xây dựng: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện xây dựng, cải tạo công sở theo đúng quy hoạch được duyệt.
- Bộ Tài chính: Phối hợp bố trí kinh phí, kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn hàng năm và tổng hợp báo cáo Chính phủ.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chủ trì phối hợp dành quỹ đất sạch để triển khai các khu hành chính tập trung.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Chủ động bố trí nguồn vốn từ ngân sách địa phương hàng năm để thực hiện việc xây dựng mới, cải tạo công sở tại địa phương.
- Các Bộ, ngành và địa phương: Tiến hành rà soát toàn bộ quỹ nhà đất công sở thuộc phạm vi quản lý, đối chiếu với các tiêu chuẩn quy hoạch tại Quyết định này để đề xuất phương án xây mới hoặc cải tạo, báo cáo Chính phủ trước ngày 31 tháng 12 năm 2007.
- Hiệu lực thi hành
Quyết định 229/2006/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc quyết định này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 229/2006/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2006 |
VỀ YÊU CẦU QUY HOẠCH XÂY DỰNG CÔNG SỞ CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CÁC CẤP
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Quyết định số 169/2003/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở của hệ thống hành chính nhà nước giai đoạn I (2003 - 2005);
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,
QUYẾT ĐỊNH :
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Quyết định này quy định những yêu cầu về quy hoạch xây dựng công sở cơ quan hành chính nhà nước các cấp, gồm các đối tượng sau đây:
1. Công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp Bộ.
2. Công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh.
3. Công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện.
4. Công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp xã.
Điều 2. Yêu cầu chung về quy hoạch xây dựng
Quy hoạch công sở cơ quan hành chính nhà nước các cấp thực hiện theo nguyên tắc tập trung và phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
1. Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu sử dụng.
2. Phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, miền đất nước.
3. Khắc phục tình trạng phân tán, manh mún của công sở cơ quan hành chính nhà nước.
4. Tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân, các cơ quan, tổ chức giao dịch và thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
5. Tạo môi trường làm việc thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, công chức, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập của đất nước.
Điều 3. Yêu cầu về vị trí và diện tích khu đất xây dựng
1. Phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Diện tích đất xây dựng phù hợp với nhu cầu sử dụng và điều kiện đất đai của từng địa phương.
3. Giao thông thuận tiện.
4. Hạ tầng kỹ thuật khu vực đảm bảo, thông tin liên lạc hiện đại, đồng bộ.
5. Đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh, môi trường.
6. Có khả năng mở rộng trong tương lai.
Điều 4. Yêu cầu về quy hoạch tổng mặt bằng
1. Quy hoạch tổng mặt bằng phải có bố cục không gian kiến trúc hiện đại, mật độ xây dựng hợp lý, tạo sự hài hoà với cảnh quan kiến trúc khu vực, đóng góp vào bộ mặt kiến trúc đô thị.
2. Công trình được bố trí có khoảng lùi.
3. Trong khuôn viên bố trí sân, đường nội bộ, nơi để xe, vườn hoa cây xanh hợp lý, tạo điều kiện để công trình tiếp cận với môi trường tự nhiên và thuận tiện cho xe cứu hoả ra vào khi có sự cố cháy nổ.
4. Công trình có hàng rào bao quanh, cổng và phòng trực để bảo đảm an ninh.
5. Quy hoạch các công trình theo hướng khuyến khích xây dựng nhiều tầng để tiết kiệm đất xây dựng.
Điều 5. Yêu cầu cụ thể về quy hoạch đối với công sở xây dựng mới
1. Đối với công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp Bộ:
a) Bố trí riêng biệt, hoặc tập trung thành khu gồm một số cơ quan có mối liên hệ chức năng;
b) Vị trí xây dựng phải được bố trí trên khu đất tiếp giáp với tuyến giao thông của đô thị.
2. Đối với công sở của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, tuỳ theo điều kiện cụ thể từng địa phương, việc quy hoạch xây dựng nhà công sở theo hướng:
a) Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân bố trí ở khu vực trung tâm, trong cùng một khuôn viên, bố trí sân vườn, cây xanh, ngoại thất, tạo sự gắn kết giữa các công trình thành một quần thể kiến trúc hài hoà với cảnh quan kiến trúc khu vực, tạo thành trung tâm hành chính của đô thị;
b) Khối cơ quan chuyên môn gồm hai hay nhiều cơ quan, có mối quan hệ chức năng, hợp khối thành liên cơ quan, bố trí trong cùng một khuôn viên hoặc ở các vị trí khác nhau trong đô thị, thành khu hành chính tập trung.
3. Đối với công sở cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện:
a) Bố trí ở khu vực trung tâm, gồm Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cùng các cơ quan chuyên môn khác trong một khuôn viên, theo hướng hợp khối thành liên cơ quan, tạo thành trung tâm hành chính của đô thị;
b) Các cơ quan chuyên môn trong một khối riêng, bố trí ở xung quanh, nhưng không cùng trong một khuôn viên với Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân;
c) Chú ý quy hoạch tổ hợp mặt bằng các công trình để tạo ra quảng trường là trung tâm của đô thị.
4. Đối với công sở của cơ quan hành chính nhà nước cấp xã, trụ sở làm việc bao gồm cả nơi làm việc của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể được bố trí ở khu vực trung tâm, có vị thế thuận lợi trong công tác quản lý địa bàn của chính quyền sở tại:
a) Công sở của cơ quan hành chính xã được quy hoạch cùng với các công trình văn hoá và các không gian chức năng khác, tạo thuận lợi cho việc bố trí hạ tầng và tạo ra cụm công trình kiến trúc khang trang, là bộ mặt chính của xã;
b) Công sở của cơ quan hành chính phường, thị trấn, Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân bố trí trong một khuôn viên, có sân, bãi đỗ xe thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân đến giao dịch, làm việc.
Điều 6. Yêu cầu cụ thể về quy hoạch đối với công sở hiện có
1. Công sở của cơ quan hành chính nhà nước hiện có ở các cấp, nếu ở vị trí thuận tiện, đủ diện tích và đảm bảo yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật thì giữ lại, tiến hành cải tạo, nâng cấp theo yêu cầu hiện đại hoá.
2. Công sở của các cơ quan hành chính nhà nước ở các cấp là nhà tiếp quản sau năm 1954 và năm 1975 hoặc được xây dựng cuối những năm 1950 và trong những năm 1960 trở về sau, không đủ về diện tích đất xây dựng, bố trí rải rác, ở vị trí không thuận lợi, không đảm bảo các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, thì được đầu tư xây dựng mới thành khu hành chính tập trung, theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 7. Trách nhiệm của các cơ quan có liên quan
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính cân đối, bố trí nguồn vốn đầu tư cho việc xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo nâng cấp hiện đại hoá công sở cơ quan hành chính nhà nước ở cấp Bộ và hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách địa phương xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo nâng cấp hiện đại hoá công sở cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương.
2. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện xây dựng, cải tạo nâng cấp hiện đại hoá công sở theo yêu cầu quy hoạch, phục vụ hiện đại hoá công sở cơ quan hành chính nhà nước các cấp.
3. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cân đối, bố trí đủ nguồn kinh phí cho việc xây dựng mới, cải tạo nâng cấp hiện đại hoá công sở cơ quan hành chính nhà nước các cấp, kiểm tra, theo dõi tình hình sử dụng vốn hàng năm và tổng hợp, báo cáo Chính phủ.
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường theo dõi, phối hợp với các cơ quan liên quan có kế hoạch dành quỹ đất cho việc triển khai bố trí khu hành chính tập trung, phục vụ yêu cầu hiện đại hoá công sở cơ quan hành chính nhà nước các cấp.
5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động bố trí nguồn vốn cho việc xây dựng mới, cải tạo nâng cấp hiện đại hoá công sở cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm.
6. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành rà soát nhà công sở hiện có thuộc phạm vi quản lý của mình, đối chiếu với yêu cầu quy hoạch xây dựng công sở cơ quan hành chính nhà nước các cấp, đề xuất các giải pháp theo hướng xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp hiện đại hoá, báo cáo Chính phủ trước ngày 31 tháng 12 năm 2007.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
| | THỦ TƯỚNG |