Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Giới thiệu khái quát về Quyết định 250-TTg năm 1977

Quyết định 250-TTg được ban hành năm 1977 bởi Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Hùng thay mặt Thủ tướng Chính phủ. Đây là một văn bản pháp lý quan trọng trong thời kỳ đầu sau khi đất nước thống nhất, nhằm điều chỉnh và bổ sung các chế độ đãi ngộ, bồi dưỡng đối với lực lượng diễn viên, công nhân và cán bộ hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Quyết định này thay thế cho Quyết định số 209-TTg/TN ngày 06/12/1966, đánh dấu bước phát triển mới trong chính sách chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ văn nghệ sĩ, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội thời bấy giờ.

Chế độ bồi dưỡng ăn uống và luyện tập thường xuyên (Điều 1)

Nhằm bảo đảm sức khỏe và thể lực cho diễn viên trong quá trình hoạt động nghệ thuật liên tục, Nhà nước quy định chế độ bồi dưỡng cụ thể như sau:

  • Mức ăn thường xuyên: Diễn viên thuộc các đoàn nghệ thuật được hưởng mức bồi dưỡng ăn thường xuyên bằng hiện vật trị giá 1,40 đồng/ngày/người. Trong đó, ngân sách Nhà nước đài thọ 0,80 đồng và diễn viên tự đóng góp 0,60 đồng.
  • Bồi dưỡng luyện tập đặc thù: Trong giai đoạn chuẩn bị đi biểu diễn tại nước ngoài, nếu diễn viên phải tranh thủ luyện tập ngoài giờ hành chính, Nhà nước sẽ hỗ trợ thêm 1,00 đồng/ngày/người. Thời gian hưởng khoản hỗ trợ thêm này tối đa là 01 tháng.

Chế độ phụ cấp biểu diễn và phục vụ biểu diễn (Điều 2 và Điều 3)

Quyết định phân định rõ ràng mức phụ cấp dựa trên tính chất lao động, chất lượng nghệ thuật và điều kiện làm việc thực tế của từng đối tượng:

  • Đối với diễn viên trực tiếp biểu diễn: Tùy thuộc vào chất lượng biểu diễn (cao hay thấp), thời gian và cường độ lao động (nhiều hay ít), diễn viên được hưởng mức phụ cấp từ 1,00 đồng đến 3,00 đồng cho mỗi buổi biểu diễn.
  • Đối với công nhân và cán bộ phục vụ: Những người trực tiếp phục vụ cho buổi biểu diễn (như kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, hậu cần, sân khấu...) được hưởng phụ cấp từ 0,60 đồng đến 1,20 đồng cho mỗi buổi biểu diễn, căn cứ vào tính chất phức tạp hay đơn giản của công việc.
  • Chế độ khi đi biểu diễn lưu động: Khi đoàn nghệ thuật đi lưu động, cả diễn viên, công nhân và cán bộ trực tiếp phục vụ đều được hưởng thêm 30% mức phụ cấp biểu diễn quy định tại Điều 2. Đối với những ngày không biểu diễn nhưng bắt buộc phải lưu trú lại địa phương nơi biểu diễn, các thành viên trong đoàn sẽ được hưởng phụ cấp lưu trú theo quy định.

Chính sách trợ cấp đặc thù dành cho nữ diễn viên có con nhỏ (Điều 4)

Để tạo điều kiện cho nữ diễn viên yên tâm công tác và cống hiến cho nghệ thuật trong hoàn cảnh đặc thù của ngành biểu diễn (thường xuyên phải đi lưu diễn, giờ giấc không cố định), Nhà nước hỗ trợ kinh phí đối với trường hợp không gửi được con tại các nhà trẻ công cộng:

  • Trường hợp con dưới 36 tháng tuổi: Nữ diễn viên được nhận khoản trợ cấp hàng tháng là 7,00 đồng.
  • Trường hợp con dưới 10 tháng tuổi: Ngoài khoản trợ cấp 7,00 đồng nêu trên, nữ diễn viên được nhận thêm khoản trợ cấp bổ sung là 10,00 đồng/tháng (tổng cộng là 17,00 đồng/tháng).

Chính sách chuyển nghề và bảo đảm đời sống khi ngừng biểu diễn (Điều 5)

Nhận thức được đặc thù tuổi nghề của diễn viên thường ngắn, Quyết định 250-TTg đưa ra các phương án nhân văn nhằm bảo đảm an sinh xã hội cho những người không còn khả năng biểu diễn:

  • Bố trí công việc nội bộ: Những diễn viên không thể tiếp tục biểu diễn trên sân khấu trước hết sẽ được xem xét, bố trí vào các công việc khác phù hợp với năng lực, kinh nghiệm cũ trong đoàn và được bảo lưu nguyên mức lương cũ.
  • Hỗ trợ đào tạo chuyển nghề: Trong trường hợp bắt buộc phải chuyển sang ngành nghề hoàn toàn mới, cơ quan quản lý có trách nhiệm tổ chức cho diễn viên đi học nghề.
  • Bảo lưu lương khi chuyển nghề: Kể từ ngày chính thức chuyển sang học hoặc làm nghề mới, diễn viên được giữ nguyên mức lương cũ trong thời gian tối đa là 24 tháng. Sau thời hạn này, tiền lương mới được xếp theo thang bảng lương của ngành nghề mới chuyển sang.

Phạm vi áp dụng và hướng dẫn thực hiện đối với các đối tượng đặc thù (Điều 6, Điều 7 và Điều 8)

Quyết định phân định rõ thẩm quyền và cách thức áp dụng chế độ đãi ngộ đối với từng nhóm đối tượng và địa bàn hoạt động:

  • Đoàn nghệ thuật Trung ương và Địa phương: Chế độ này áp dụng trực tiếp cho diễn viên thuộc các đoàn nghệ thuật cấp Trung ương. Đối với các đoàn nghệ thuật địa phương, Bộ Văn hóa có trách nhiệm hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào quyết định này để vận dụng linh hoạt, phù hợp với ngân sách địa phương.
  • Đối với ngành Điện ảnh: Diễn viên điện ảnh được hưởng đầy đủ các chế độ về bồi dưỡng ăn uống (Điều 1), trợ cấp con nhỏ (Điều 4) và chính sách chuyển nghề (Điều 5) như diễn viên sân khấu. Khi hoạt động tại đoàn kịch điện ảnh hoặc đi biểu diễn lưu động, họ được hưởng phụ cấp biểu diễn theo Điều 2 và Điều 3. Trong thời gian trực tiếp tham gia đóng phim, Bộ Văn hóa, Bộ Tài chính và Bộ Lao động phối hợp quy định các khoản phụ cấp đặc thù phù hợp với tính chất sản xuất phim.
  • Đối với các ngành không có doanh thu: Các cơ quan, đơn vị có sử dụng diễn viên nghệ thuật nhưng hoạt động không vì mục đích thương mại hoặc có doanh thu hạn chế (như Bộ Quốc phòng, Đài Tiếng nói Việt Nam...) cần chủ động bàn bạc với Bộ Văn hóa, Bộ Tài chính và Bộ Lao động để xây dựng phương án áp dụng phù hợp với đặc thù của ngành mình.

Trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước (Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 12)

Để quyết định đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, Chính phủ giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành liên quan:

  • Ngành Thương nghiệp và Lương thực: Các ngành nội thương, lương thực và thực phẩm có trách nhiệm bảo đảm nguồn cung, phân phối đầy đủ, kịp thời lương thực và thực phẩm cho diễn viên theo đúng định lượng bồi dưỡng đã quy định.
  • Bộ Văn hóa và các ngành chủ quản: Có trách nhiệm xây dựng và ban hành các quy định hợp lý về chế độ công tác, chế độ sinh hoạt, học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ, đồng thời hướng dẫn, hỗ trợ diễn viên tổ chức tốt đời sống cá nhân và gia đình.
  • Hiệu lực thi hành: Quyết định này chính thức thay thế Quyết định số 209-TTg/TN ngày 06/12/1966. Các Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ Tài chính và Bộ Lao động chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết và đôn đốc, kiểm tra việc thi hành quyết định này trên phạm vi cả nước.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 250-TTg

Hà Nội, ngày 14 tháng 06 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ MỘT SỐ CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI DIỄN VIÊN

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Để tạo điều kiện cho diễn viên các đoàn nghệ thuật nâng cao chất lượng phục vụ, đồng thời góp phần phát triển nghệ thuật của nước nhà;
Căn cứ đề nghị của các đồng chí Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Lao động về việc bổ sung chế độ đãi ngộ đối với diễn viên các đoàn nghệ thuật.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. – Diễn viên các đoàn nghệ thuật được bồi dưỡng mức ăn thường xuyên bằng hiện vật, theo mức 1,40đ một ngày cho mỗi người (Nhà nước đài thọ 0,80đ, diễn viên đóng 0,60đ).

Trong trường hợp chuẩn bị đi biểu diễn ở nước ngoaì, phải tranh thủ luyện tập ngoài giờ, thì Nhà nước đài thọ thêm cho mỗi người 1đ một ngày, trong thời gian tối đa là một tháng.

Điều 2. – Diễn viên các đoàn nghệ thuật, mỗi khi tham gia biểu diễn, sẽ tùy theo chất lượng biểu diễn cao hay thấp, thời gian và cường độ lao động nhiều hay ít mà được hưởng phụ cấp mỗi buổi biểu diễn từ 1đ đến 3đ cho mỗi người.

Công nhân, cán bộ trong đoàn nghệ thuật trực tiếp phục vụ cho buổi biểu diễn sẽ tùy theo tính chất lao động phức tạp hay giản đơn, thời gian và cường độ lao động nhiều hay ít mà được hưởng phụ cấp mỗi buổi biểu diễn từ 0,60đ đến 1,20đ cho mỗi người.

Điều 3. – Diễn viên, công nhân, cán bộ trong đoàn nghệ thuật đi biểu diễn lưu động được hưởng thêm mỗi buổi biểu diễn 30% mức phụ cấp biểu diễn nói ở điều 2.

Trong những ngày không biểu diễn, nhưng cần thiết phải ở lại nơi biểu diễn, thì được hưởng phụ cấp lưu trú.

Điều 4. – Nữ diễn viên có con nhỏ mà không có điều kiện gửi được con ở nhà trẻ của cơ quan, xí nghiệp, đường phố thì được hưởng trợ cấp như sau:

a)Nếu con nhỏ dưới 36 tháng, nữ diễn viên được hưởng khoản trợ cấp hàng tháng là 7đ;

b)Nếu con nhỏ dưới 10 tháng, thì ngoài khoản trợ cấp 7đ nói trên, còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp hàng tháng là 10đ.

Điều 5. – Những diễn viên không thể tiếp tục làm công tác biểu diễn thì trước hết được sử dụng vào những công việc phù hợp với khả năng cũ và được giữ nguyên lương.

Trong trường hợp diễn viên phải chuyển nghề thì cơ quan sử dụng phải tổ chức cho diễn viên học nghề. Kể từ ngày chính thức chuyển sang nghề khác, diễn viên được hưởng nguyên lương trong thời hạn là 24 tháng, sau đó sẽ xếp lương theo nghề mới.

Điều 6. - Chế độ đãi ngộ này được áp dụng đối với diễn viên các đoàn nghệ thuật ở trung ương.

Đối với diễn viên các đoàn nghệ thuật ở địa phương, Bộ Văn hóa có trách nhiệm căn cứ vào chế độ đãi ngộ này để hướng dẫn các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vận dụng cho thích hợp.

Điều 7. - Diễn viên điện ảnh được hưởng chế độ đãi ngộ nói trong các điều 1, 4, 5, như diễn viên các đoàn nghệ thuật sân khấu.

Về các khoản phụ cấp khác, quy định như sau:

a) Trong thời gian công tác ở đoàn kịch điện ảnh, diễn viên điện ảnh và các công nhân, cán bộ của đoàn đi biểu diễn, được hưởng các khoản phụ cấp nói trong điều 2 và điều 3.

b) Trong thời gian đóng phim, diễn viên, công nhân, cán bộ của đoàn làm phim được hưởng những khoản phụ cấp thích hợp với hoạt động của ngành điện ảnh. Bộ Văn hóa, Bộ Tài chính, Bộ Lao động có trách nhiệm căn cứ vào quyết định này và đặc điểm hoạt động của ngành điện ảnh để quy định cụ thể những khoản phụ cấp đó.

Điều 8. – Các ngành có sử dụng diễn viên nghệ thuật nhưng không có doanh thu hoặc có nhưng rất hạn chế (như Bộ Quốc phòng, Đài Tiếng nói Việt Nam v.v…) cần bàn bạc với Bộ Văn hóa, Bộ Tài chính, Bộ Lao động để quy định cụ thể cách vận dụng quyết định này cho thích hợp.

Điều 9. – Các ngành nội thương, lương thực và thực phẩm có trách nhiệm bảo đảm cung cấp đủ lương thực và các loại thực phẩm cho các diễn viên theo chế độ quy định trên đây.

Điều 10. – Bộ Văn hóa và các ngành có sử dụng diễn viên có trách nhiệm quy định hợp lý chế độ công tác, chế độ sinh hoạt, chế độ bổ túc nghề nghiệp và hướng dẫn diễn viên tổ chức tốt đời sống.

Điều 11. - Quyết định này thay thế cho quyết định số 209-TTg/TN ngày 6-12-1966 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đãi ngộ đối với diễn viên văn công.

Điều 12. – Các đồng chí Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ Tài chính, Bộ Lao động có trách nhiệm thi hành và hướng dẫn thi hành quyết định này.

 

K. T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Phạm Hùng

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 250-TTg năm 1977 về một số chế độ đối với diễn viên do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 250-TTg
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 14/06/1977
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Phạm Hùng
Ngày công báo: 15/07/1977
Số công báo: Số 12
Ngày hiệu lực: 29/06/1977
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 250-TTg năm 1977 về một số chế độ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký