TỔNG QUAN VỀ QUYẾT ĐỊNH 28/2010/QĐ-UBND CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Quyết định 28/2010/QĐ-UBND ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Văn bản này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký và thay thế cho Quyết định số 05/2010/QĐ-UBND ngày 02/02/2010. Quy chế ban hành kèm theo Quyết định quy định chi tiết về nguyên tắc, nguồn tên, thẩm quyền, quy trình và quy cách gắn biển tên đường, công trình công cộng tại các đô thị thuộc tỉnh Bình Dương.
1. Nguyên tắc chung về đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng
Quy chế xác định rõ các nguyên tắc bắt buộc nhằm bảo đảm tính khoa học, lịch sử và sự ổn định trong quản lý đô thị:
- Hạn chế tối đa việc đổi tên: Không đổi tên đường và công trình công cộng đã có tên gọi quen thuộc, gắn bó với lịch sử - văn hóa địa phương hoặc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân (tên gọi dân gian). Chỉ xem xét đổi tên đối với những trường hợp tên cũ không có ý nghĩa lịch sử - văn hóa, không phù hợp thuần phong mỹ tục, không phải nhân vật tiêu biểu hoặc gây ảnh hưởng xấu đến xã hội.
- Tránh trùng lặp tên danh nhân: Không đặt tên đường hoặc công trình công cộng bằng các tên gọi khác nhau của cùng một danh nhân trên cùng một địa bàn huyện, thị xã. Không đặt trùng tên cho hai tuyến đường hoặc hai công trình công cộng trong cùng một đơn vị hành chính cấp huyện.
- Bảo đảm tính tương xứng: Việc đặt tên phải căn cứ vào vị trí, cấp độ, quy mô của đường và công trình công cộng để lựa chọn tên gọi tương xứng với ý nghĩa địa danh, tầm quan trọng của sự kiện lịch sử hoặc công lao của danh nhân.
- Phân bổ địa bàn hợp lý: Khu vực trung tâm huyện, thị xã ưu tiên chọn tên địa danh nổi tiếng, sự kiện lịch sử trọng đại, danh nhân tiêu biểu của đất nước hoặc thế giới. Các địa bàn còn lại ưu tiên chọn địa danh nổi tiếng tại địa phương, danh lam thắng cảnh và anh hùng liệt sĩ có công lao lớn với Tổ quốc.
2. Nguồn tên dùng để đặt tên đường và công trình công cộng
Tên đường và công trình công cộng được lựa chọn từ các nguồn dữ liệu cụ thể sau:
- Địa danh nổi tiếng: Các địa danh có ý nghĩa, giá trị tiêu biểu về lịch sử - văn hóa của đất nước hoặc địa phương; địa danh quen dùng từ xưa; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt.
- Danh từ có ý nghĩa tiêu biểu: Các danh từ thể hiện giá trị chính trị, văn hóa, xã hội như Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, Thống Nhất, Giải Phóng, Đồng Khởi...
- Di tích và danh thắng: Tên các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu đã được xếp hạng theo Luật Di sản văn hóa.
- Sự kiện lịch sử: Tên các phong trào cách mạng, chiến thắng chống xâm lược có ý nghĩa tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương.
- Tên danh nhân: Bao gồm danh nhân trong nước và nước ngoài có đức, có tài, có đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hoặc có đóng góp đặc biệt cho sự phát triển của địa phương, được nhân dân thừa nhận. Không xem xét đặt tên đối với những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng.
- Phân đoạn đường dài: Đối với các tuyến đường đô thị quá dài, căn cứ điều kiện thực tế có thể phân chia thành từng đoạn để đặt các tên gọi khác nhau.
3. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của Hội đồng tư vấn
Quy chế quy định việc thành lập Hội đồng tư vấn ở cả hai cấp tỉnh và huyện để hỗ trợ công tác thẩm định:
- Hội đồng tư vấn cấp tỉnh:
- Thành phần: Đại diện Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cơ quan thường trực), Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Giao thông Vận tải, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Khoa học và Công nghệ, Hội Khoa học lịch sử tỉnh.
- Nhiệm vụ: Khảo sát, phân loại các tuyến đường cần đặt/đổi tên; xây dựng và quản lý "Ngân hàng tên" trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê chuẩn; tổ chức lấy ý kiến các cơ quan chuyên môn và nhân dân; tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
- Nguyên tắc làm việc: Thảo luận tập thể, quyết định theo đa số; trường hợp có ý kiến khác nhau thì ý kiến của Chủ tịch Hội đồng (Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh) là quyết định cuối cùng.
- Hội đồng tư vấn cấp huyện:
- Thành phần: Ban Tuyên giáo huyện/thị ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, Phòng Văn hóa và Thông tin (Cơ quan thường trực), Phòng Y tế, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Quản lý đô thị.
- Nhiệm vụ: Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã khảo sát công trình công cộng cần đặt/đổi tên; hướng dẫn lập hồ sơ thủ tục và tư vấn cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định theo thẩm quyền.
- Bộ máy giúp việc và kinh phí: Các Hội đồng không có bộ máy giúp việc riêng mà sử dụng chuyên viên kiêm nhiệm của các cơ quan thành viên. Kinh phí hoạt động được lồng ghép trong kinh phí hoạt động thường xuyên của các ngành liên quan.
4. Thẩm quyền quyết định đặt tên, đổi tên
Thẩm quyền quyết định được phân cấp rõ ràng dựa trên quy mô và tính chất của đường, công trình công cộng:
- Thẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh: Quyết định đặt tên, đổi tên đối với các đối tượng quy mô lớn, bao gồm: Đại lộ, đường đô thị, đường tỉnh, đường huyện, đường liên huyện; quảng trường; trường đại học, trường cao đẳng; bệnh viện cấp tỉnh và tương đương trở lên; các công trình văn hóa, thể thao, du lịch, vui chơi giải trí quy mô lớn hoặc có phạm vi phục vụ rộng rãi.
- Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh: Thành lập Hội đồng tư vấn tỉnh; công bố công khai dự kiến đặt/đổi tên để lấy ý kiến nhân dân trước khi trình Hội đồng nhân dân tỉnh; quyết định đặt tên các công trình công cộng khác ngoài thẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện.
- Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện: Quyết định đặt tên, đổi tên các công trình công cộng được Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan thường trực Hội đồng tư vấn tỉnh.
5. Quy trình và hồ sơ đề nghị đặt tên, đổi tên
Quy trình thực hiện bảo đảm tính công khai, dân chủ và chặt chẽ qua các bước:
- Quy trình thực hiện:
- Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan quản lý lập hồ sơ đề nghị gửi Hội đồng tư vấn thẩm định.
- Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan chuyên môn về lịch sử, văn hóa, các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể liên quan.
- Công bố công khai phương án dự kiến trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; tổ chức họp dân cư tại khu vực ảnh hưởng để lấy ý kiến đóng góp trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định.
- Đối với các tuyến đường trong khu dân cư mới, chủ đầu tư có trách nhiệm lập tờ trình và hồ sơ gửi Hội đồng tư vấn tỉnh thẩm định để trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
- Thành phần hồ sơ bắt buộc:
- Văn bản đề nghị của địa phương, đơn vị (nêu rõ lý do đặt/đổi tên).
- Danh sách chi tiết các tuyến đường, công trình (ghi rõ mã hiệu, điểm đầu, điểm cuối, chiều dài, chiều rộng, kết cấu mặt đường).
- Bản tóm tắt tiểu sử danh nhân hoặc thuyết minh ý nghĩa của tên dự kiến đặt.
- Sơ đồ vị trí tuyến đường, công trình công cộng (khổ giấy A3).
- Các văn bản tổng hợp ý kiến đóng góp của các cơ quan chuyên môn, đoàn thể và nhân dân.
6. Quy định về gắn biển và quy cách biển tên đường
Việc gắn biển tên đường phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn kỹ thuật và thời gian quy định:
- Thời hạn thực hiện: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày quyết định đặt tên, đổi tên của cấp có thẩm quyền có hiệu lực, các cơ quan chức năng hoặc chủ đầu tư phải hoàn thành việc gắn biển và công bố rộng rãi cho nhân dân.
- Quy cách biển tên đường:
- Kích thước: Hình chữ nhật, kích thước chuẩn 75cm x 40cm.
- Màu sắc: Nền màu xanh lam sẫm; đường viền màu trắng rộng 0,5cm, cách mép ngoài của biển từ 3cm đến 3,5cm; bốn góc viền uốn cong đều vào bên trong.
- Chất liệu: Sắt tráng men hoặc nhôm lá dập, sơn chất liệu phản quang có độ bền cao.
- Chữ viết: Kiểu chữ in hoa không chân, màu trắng. Từ "ĐƯỜNG" ở dòng trên, tên riêng ở dòng dưới với cỡ chữ lớn hơn dòng trên.
- Biểu tượng: Thể hiện logo của tỉnh Bình Dương màu trắng ở góc cao bên trái biển.
- Vị trí gắn biển: Gắn ở đầu đường, cuối đường và tại các điểm giao nhau. Biển được lắp trên cột sắt đường kính tối thiểu 10cm, chôn vững chắc, chiều cao từ mặt đất đến đầu cột là 250cm. Tại các giao lộ, hai biển tên đường được gắn vuông góc trên cùng một cột. Có thể tận dụng gắn trên cột điện nếu ở vị trí thích hợp.
7. Tổ chức thi hành
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền, giải thích ý nghĩa các sự kiện lịch sử, danh nhân được chọn đặt tên. Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm công bố công khai và phổ biến rộng rãi cho nhân dân địa phương sau khi có quyết định đặt, đổi tên. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, các đơn vị kịp thời phản ánh về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổng hợp, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét sửa đổi, bổ sung.
| ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 28/2010/QĐ-UBND | Thủ Dầu Một, ngày 17 tháng 8 năm 2010 |
BAN HÀNH QUY CHẾ ĐẶT TÊN, ĐỔI TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 03/12/2004;
Căn cứ Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng;
Căn cứ Thông tư số 36/2006/TT-BVHTT ngày 20/03/2006 của Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) về hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ;
Theo đề nghị của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Tờ trình số 44/ TTr-SVHTTDL ngày 04/8/2010 về việc đề nghị ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Bình Dương,
QUYẾT ĐỊNH:
|
Nơi nhận: | TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
ĐẶT TÊN, ĐỔI TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
(Ban hành kèm theo Quyết định số 28 /2010/QĐ-UBND ngày 17/8/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương)
Điều 3. Trong Quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
Đại lộ: Là đường có quy mô lớn, có ý nghĩa đặc biệt và giữ vị trí quan trọng trong mạng lưới giao thông đô thị, đáp ứng yêu cầu hạ tầng kỹ thuật, thẩm mỹ và cảnh quan đô thị.
Đường: Là lối đi lại được xác định trong quy hoạch đô thị có quy mô lớn về chiều dài, chiều rộng, gồm các trục chính trên địa bàn đô thị, các tuyến vành đai, liên tỉnh.
Công trình công cộng: Nêu trong quy chế này bao gồm quảng trường, công viên, vườn hoa, cầu, bến xe, công trình văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao, y tế, giáo dục, công trình phục vụ du lịch, vui chơi giải trí.
Đô thị: Bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập.
NGUYÊN TẮC ĐẶT TÊN, ĐỔI TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG
Đường trong các khu công nghiệp, khu dân cư không phải là đường trục chính thì có thể chọn số hiệu hoặc số thứ tự để đặt tên.
Trường hợp đường và công trình công cộng đã có tên mà xét thấy không có ý nghĩa lịch sử - văn hóa, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc, không phải là nhân vật tiêu biểu của đất nước hoặc của địa phương, gây ảnh hưởng, tác động xấu trong xã hội thì phải đổi tên, nhưng cần xem xét thận trọng.
Điều 6. Không đặt tên đường hoặc công trình công cộng bằng các tên gọi khác nhau của một danh nhân trong cùng một địa bàn huyện, thị xã; không đặt hai tuyến đường cùng một tên hoặc hai công trình công cộng cùng một tên trên cùng một địa bàn huyện, thị xã.
Trong trường hợp đặc biệt thì cần xem xét từng trường hợp cụ thể gắn với các mốc lịch sử cụ thể trong cuộc đời hoạt động của danh nhân để có phương án xử lý phù hợp.
Trên địa bàn của trung tâm huyện, thị xã cần lựa chọn tên các địa danh, tên các sự kiện lịch sử trọng đại, các danh nhân tiêu biểu của đất nước (danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc) hoặc các danh nhân của thế giới trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội…để đặt tên cho đường và công trình công cộng.
Các địa bàn còn lại, căn cứ vào vị trí quy mô đường, công trình để lựa chọn sự kiện lịch sử - văn hóa, danh nhân cho phù hợp; cần ưu tiên lấy địa danh nổi tiếng, sự kiện lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, danh nhân tiêu biểu, những anh hùng liệt sĩ có công lao to lớn đối với tổ quốc để đặt tên đường và công trình công cộng.
Mục 2: ĐẶT TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG
Điều 9. Đường và công trình công cộng được đặt tên trên cơ sở lựa chọn một trong các tên sau đây:
Tên địa danh nổi tiếng, có ý nghĩa và có giá trị tiêu biểu về lịch sử - văn hóa của đất nước hoặc của địa phương; địa danh đã quen dùng từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt.
Danh từ có ý nghĩa tiêu biểu về chính trị, văn hóa, xã hội: Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, Thống Nhất, Giải Phóng, Đồng Khởi…
Tên di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh có giá trị tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương và đã được xếp hạng theo quy định của Luật Di sản văn hóa.
Tên phong trào cách mạng, sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược có giá trị tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương.
Tên danh nhân bao gồm cả danh nhân nước ngoài. Danh nhân đó phải là người nổi tiếng, có đức, có tài, có đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc cũng như của địa phương hoặc có đóng góp đặc biệt cho đất nước, có công lớn trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, phát triển tình hữu nghị giữa các dân tộc, được nhân dân suy tôn và thừa nhận.
Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì chưa xem xét đặt tên cho đường và công trình công cộng.
HỘI ĐỒNG TƯ VẤN ĐẶT TÊN, ĐỔI TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG
Hội đồng tư vấn đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng tỉnh Bình Dương do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm cơ quan thường trực. Cuộc họp của Hội đồng tư vấn tỉnh do Chủ tịch Hội đồng triệu tập, cơ quan thường trực của Hội đồng tư vấn chuẩn bị nội dung.
Điều 12. Hội đồng tư vấn tỉnh có nhiệm vụ:
Phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện, thị xã thống kê tên các đường và công trình công cộng đã được đặt tên; khảo sát, phân loại các tuyến đường và công trình công cộng cần đặt tên hoặc đổi tên, hướng dẫn các địa phương, đơn vị xây dựng kế hoạch đặt tên, đổi tên cho phù hợp.
Nghiên cứu xác lập Ngân hàng tên (danh mục tên được lựa chọn, lưu trữ) theo quy định tại Điều 9 Quy chế này và trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê chuẩn để sử dụng phục vụ lâu dài cho công tác đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh.
Tổ chức lấy ý kiến của cơ quan chuyên môn về lịch sử, văn hóa, các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, các nhà nghiên cứu đối với tên đường và công trình công cộng có quy mô lớn và ý nghĩa quan trọng.
Phát hiện những tên đường và công trình công cộng trùng nhau, chưa đúng hoặc chưa hợp lý để tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét trình Hội đồng nhân dân tỉnh để điều chỉnh hoặc thay đổi.
Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh.
Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng theo thẩm quyền.
Thẩm định ý nghĩa, lịch sử tên gọi dân gian để tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng.
Điều 13. Phân công trách nhiệm và lề lối làm việc của Hội đồng tư vấn tỉnh.
Phân công trách nhiệm
b) Đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy được cơ cấu làm Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn tỉnh và giúp Hội đồng tư vấn tỉnh thẩm định tính chính xác của các sự kiện, địa danh lịch sử, anh hùng liệt sĩ, danh nhân được đề nghị đặt tên, đổi tên;
c) Thành viên là lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được cơ cấu làm Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn tỉnh, là cơ quan thường trực, giúp Hội đồng tư vấn tỉnh thẩm định việc đặt tên, đổi tên cho các công trình văn hóa nghệ thuật, công trình thể dục thể thao, công trình phục vụ du lịch, vui chơi giải trí;
d) Thành viên là đại diện lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh giúp Hội đồng tư vấn tỉnh lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức Đảng, đoàn thể nhân dân;
đ) Thành viên là đại diện lãnh đạo Sở Y tế giúp Hội đồng tư vấn tỉnh thẩm định việc đặt tên, đổi tên các công trình thuộc lĩnh vực y tế;
e) Thành viên là đại diện lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội giúp Hội đồng Tư vấn tỉnh thẩm định việc chọn tên các anh hùng, liệt sĩ tiêu biểu được địa phương đề nghị đặt tên, đổi tên;
f) Thành viên là Hội Khoa học lịch sử tỉnh phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy giúp Hội đồng tư vấn tỉnh thẩm định tính chính xác của các sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử, tên gọi dân gian được đề nghị đặt tên, đổi tên;
g) Thành viên là đại diện lãnh đạo Sở Khoa học Công nghệ giúp Hội đồng Tư vấn tỉnh thẩm định tính khoa học của việc đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng.
h) Thành viên là đại diện Sở Giao thông Vận tải hướng dẫn các địa phương đặt số hiệu đường bộ theo quy định đối với đường trong khu công nghiệp, đường đô thị, đường tỉnh, đường huyện chưa được đặt tên;
k) Thành viên là đại diện lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo giúp Hội đồng tư vấn tỉnh thẩm định việc đặt tên, đổi tên các trường học và cơ sở giáo dục đào tạo khác.
2. Lề lối làm việc
a) Hội đồng tư vấn tỉnh làm việc theo nguyên tắc thảo luận tập thể, khi có ý kiến khác nhau giữa các thành viên trong Hội đồng, thì ý kiến kết luận của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định cuối cùng.
b) Cuộc họp của Hội đồng tư vấn tỉnh do Chủ tịch Hội đồng triệu tập, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuẩn bị nội dung.
Các huyện, thị xã thành lập Hội đồng tư vấn đặt tên, đổi tên công trình công cộng cấp huyện (sau đây viết tắt là Hội đồng tư vấn cấp huyện) bao gồm các đơn vị cùng cấp như: Ban Tuyên giáo huyện, thị ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Y tế, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Quản lý đô thị...
- Hội đồng tư vấn cấp huyện do Phòng Văn hóa và Thông tin làm cơ quan thường trực. Cuộc họp của Hội đồng tư vấn cấp huyện do Chủ tịch Hội đồng triệu tập, cơ quan thường trực của Hội đồng tư vấn chuẩn bị nội dung.
- Hội đồng tư vấn cấp huyện có chức năng tư vấn giúp Ủy ban nhân dân huyện quyết định về việc đặt tên, đổi tên công trình công cộng trên địa bàn huyện, thị theo đúng quy định của pháp luật.
Hội đồng tư vấn cấp huyện có nhiệm vụ: Phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn khảo sát, phân loại công trình công cộng trên địa bàn huyện, thị cần đặt tên, đổi tên và hướng dẫn các địa phương lập hồ sơ thủ tục việc đặt tên, đổi tên theo đúng quy định.
Lề lối làm việc: Hội đồng tư vấn cấp huyện làm việc theo nguyên tắc thảo luận tập thể, khi có ý kiến khác nhau giữa các thành viên Hội đồng, thì ý kiến kết luận của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định cuối cùng.
Phân công trách nhiệm: Căn cứ vào tình hình cơ cấu thành viên tham gia, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặt tên, đổi tên công trình công cộng huyện, thị xã có sự phân công cụ thể đối với từng thành viên.
Điều 15. Bộ máy giúp việc và kinh phí hoạt động
Hội đồng tư vấn tỉnh và Hội đồng tư vấn cấp huyện không có bộ máy giúp việc riêng, mỗi thành viên Hội đồng phân công chuyên viên thuộc cơ quan mình giúp việc.
Kinh phí hoạt động của Hội đồng tư vấn tỉnh và Hội đồng tư vấn cấp huyện được sử dụng trong kinh phí hoạt động của các ngành có nhiệm vụ liên quan đến việc đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng.
THẨM QUYỀN VÀ QUY TRÌNH XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH VIỆC ĐẶT TÊN, ĐỔI TÊN ĐƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG
Điều 16. Việc đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng được quy định như sau:
1. Đường và công trình công cộng có quy mô lớn, có ý nghĩa quan trọng thuộc thẩm quyền đặt tên, đổi tên của Hội đồng nhân dân tỉnh
a) Đường: Đại lộ, đường đô thị (đường trên địa bàn thành phố, thị xã, thị trấn), đường tỉnh, đường huyện, đường liên huyện;
b) Quảng trường;
c) Trường học: Trường Đại học, Trường Cao đẳng;
d) Cơ sở y tế: Bệnh viện cấp tỉnh và tương đương trở lên;
đ) Công trình văn hóa nghệ thuật, công trình thể dục thể thao, công trình phục vụ du lịch, vui chơi giải trí có quy mô lớn;
e) Các công trình công cộng có quy mô lớn, có phạm vi phục vụ rộng rãi nhân dân trong và ngoài tỉnh, có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh có nhiệm vụ
a) Thành lập Hội đồng tư vấn tỉnh để giúp Ủy ban nhân dân tỉnh nghiên cứu xác lập Ngân hàng tên; lập danh mục tên các đường và công trình công cộng cần đặt tên hoặc đổi tên; lấy ý kiến của các cơ quan chuyên môn, các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể và các nhà khoa học;
b) Công bố công khai dự kiến đặt tên hoặc đổi tên đường và công trình công cộng để nhân dân tham gia góp ý kiến trước khi trình Hội đồng nhân dân tỉnh tại các kỳ họp thường kỳ hàng năm;
c) Quyết định đặt tên các công trình công cộng khác hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện đặt tên các công trình công cộng ngoài quy định tại khoản 1 Điều 16 của Quy chế này;
d) Kiểm tra, đôn đốc việc đặt tên các công trình công cộng đã ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Điều 17. Về quy trình đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng
Đặt tên, đổi tên đường
Đối với đường thuộc thẩm quyền đặt tên, đổi tên của Hội đồng nhân dân tỉnh:
- Ủy ban nhân dân cấp huyện và đơn vị lập văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này gửi đến Hội đồng tư vấn tỉnh thẩm định và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
- Các tuyến đường liên huyện, thị xã khi đặt tên, đổi tên thì huyện, thị xã có chiều dài nhất của đường nằm trên địa bàn trao đổi thống nhất với huyện, thị xã có đường đi ngang qua.
- Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan chuyên môn về lịch sử, văn hóa: tổ chức Đảng (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy), chính quyền (các Sở, ban, ngành có liên quan của tỉnh), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể cùng cấp…
- Công bố công khai dự kiến đặt tên, đổi tên đường trên các cơ quan thông tin đại chúng (báo chí, đài truyền thanh…); niêm yết tại các trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; tổ chức cuộc họp nhân dân cư trú nơi có tuyến đường đề nghị đặt tên, đổi tên để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến trước khi Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định đặt tên.
- Việc đặt tên các tuyến đường trong các khu dân cư do chủ đầu tư khu dân cư lập tờ trình và gửi hồ sơ đến Hội đồng tư vấn tỉnh để thẩm định và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Hội đồng tư vấn tỉnh sẽ tiến hành thẩm định và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định việc đặt tên, đổi tên;
Đặt tên, đổi tên công trình công cộng
a) Đối với các công trình công cộng thuộc thẩm quyền đặt tên, đổi tên của Hội đồng nhân dân tỉnh:
- Sở, ngành có chức năng quản lý nhà nước đối với công trình công cộng phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện, thị xã có công trình trên địa bàn thống nhất việc đặt tên, đổi tên và gửi văn bản kèm theo thủ tục hồ sơ đến Hội đồng tư vấn tỉnh thẩm định và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định đặt tên, đổi tên.
- Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan chuyên môn về lịch sử, văn hóa như: Hội khoa học lịch sử, Hội Văn học nghệ thuật…, tổ chức Đảng (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy), chính quyền (các Sở, ngành có liên quan của tỉnh), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, các nhà khoa học…
- Công bố công khai dự kiến đặt tên hoặc đổi tên cho công trình công cộng trên các cơ quan thông tin đại chúng (báo chí, đài truyền thanh địa phương…); niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; tổ chức cuộc họp nhân dân cư trú nơi có công trình công cộng để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến trước khi Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định đặt tên.
b) Đối với công trình công cộng thuộc thẩm quyền đặt tên, đổi tên của Ủy ban nhân dân tỉnh.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc đơn vị có công trình công cộng đề nghị đặt tên, đổi tên tiến hành lập hồ sơ như quy định tại khoản 3 Điều này gửi đến Hội đồng tư vấn tỉnh để thẩm định, tổ chức lấy ý kiến và tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
- Hội đồng tư vấn tỉnh tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan chuyên môn về lịch sử, văn hóa: tổ chức Đảng (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy), chính quyền (các Sở, ban, ngành có liên quan), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể cùng cấp, các nhà nghiên cứu và cơ quan cấp trên trực tiếp trước khi trình Ủy ban nhân nhân tỉnh quyết định.
c) Đối với công trình công cộng thuộc thẩm quyền đặt tên, đổi tên của Ủy ban nhân dân huyện, thị xã:
- Hội đồng tư vấn cấp huyện lập các hồ sơ thủ tục theo quy định tại khoản 3 Điều này, đồng thời có văn bản trao đổi thống nhất với cơ quan thường trực Hội đồng tư vấn tỉnh trước khi trình Ủy ban nhân dân huyện, thị xã quyết định đặt tên, đổi tên công trình công cộng.
- Hội đồng tư vấn cấp huyện tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan chuyên môn về lịch sử, văn hóa; tổ chức Đảng (Ban Tuyên giáo huyện ủy), chính quyền (các phòng, ban chuyên môn cấp huyện có liên quan), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể cùng cấp, các nhà nghiên cứu và cơ quan cấp trên trực tiếp trước khi trình Ủy ban nhân nhân cấp huyện quyết định.
Hồ sơ đề nghị đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng
- Văn bản đề nghị của địa phương, đơn vị ghi rõ lý do, số lượng tuyến đường hoặc công trình công cộng đề nghị đặt tên, đổi tên. Đối với trường hợp đổi tên phải nêu lý do cụ thể việc đổi tên.
- Danh sách tên đường và công trình công cộng đề nghị đặt tên, đổi tên ghi rõ: Số thứ tự, mã hiệu, tên đường (cũ, dự kiến đặt tên mới) điểm đầu, điểm cuối, kết cấu, chiều dài, chiều rộng, kết cấu mặt đường.
- Tóm tắt tiểu sử, ý nghĩa (thuyết minh) của tên dự kiến đặt cho đường và công trình công cộng.
- Sơ đồ vị trí các tuyến đường và công trình công cộng đề nghị đặt tên, đổi tên (khổ giấy A 3).
- Các văn bản có liên quan về việc lấy ý kiến (văn bản góp ý của cơ quan chuyên môn về lịch sử, văn hóa, các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể cùng cấp, các nhà nghiên cứu và cơ quan cấp trên trực tiếp…)
- Hồ sơ đề nghị đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng của các đơn vị, các địa phương gửi về Hội đồng tư vấn tỉnh thông qua cơ quan thường trực (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) của Hội đồng tư vấn tỉnh.
Điều 18. Gắn biển tên đường và công trình công cộng; quy cách biển tên đường
1. Gắn biển tên đường và công trình công cộng
Căn cứ quyết định đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng của cấp thẩm quyền, các cơ quan chức năng quản lý và chủ đầu tư công trình công cộng thực hiện việc gắn biển tên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày văn bản về việc đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện có hiệu lực; đồng thời phải công bố và phổ biến rộng rãi cho nhân dân biết.
2. Quy cách biển tên đường
a) Kích thước: Hình chữ nhật 75cm x 40cm;
b) Màu sắc: Xanh lam sẫm; đường viền trắng rộng 0,5cm cách mép ngoài của biển từ 3cm đến 3,5cm; bốn góc viền uốn cong đều vào bên trong;
c) Chất liệu: Sắt tráng men hoặc nhôm lá dập, sơn chất liệu phản quang có độ bền tốt;
d) Chữ viết trên biển: Kiểu chữ in hoa không có chân, màu trắng; từ đường ở dòng trên, từ tên đường ở dòng dưới và có cỡ chữ to hơn từ đường ở dòng trên;
đ) Vị trí thể hiện biểu tượng (logo) của tỉnh: Trên biển tên đường thể hiện biểu tượng (logo) của tỉnh màu trắng lên góc cao bên trái biển;
- Biển được gắn ở đầu, ở cuối đường và ở các điểm giao nhau với đường khác.
- Biển được gắn trên đầu cột sắt có đường kính tối thiểu 10cm, được chôn vững chắc, khoảng cách từ mặt đất đến đầu cột cao khoảng 250cm, vị trí cột ở gần mép góc vuông vỉa hè của hai đường giao nhau; hai biển tên hai đường giao nhau gắn vuông góc với nhau trên một cột, một biển nằm trên, một biển nằm dưới liền kề. Tại nơi gắn biển nếu có cột điện ở vị trí thích hợp thì biển có thể được gắn trên cột điện đó.
Đối với đường và công trình công cộng sau khi được cấp thẩm quyền quyết định đăt tên, đổi tên; Ủy ban nhân dân huyện, thị xã có trách nhiệm công bố và phổ biến rộng rãi để nhân dân được biết.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các sở, ngành địa phương cần phản ánh về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Thường trực Hội đồng tư vấn tỉnh để nghiên cứu trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.
- 1 Nghị định 91/2005/NĐ-CP về Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng
- 2 Thông tư 36/2006/TT-BVHTT hướng dẫn thực hiện Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng kèm theo Nghị định 91/2005/NĐ-CP do Bộ Văn hóa Thông tin ban hành
- 3 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân 2003
- 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2004
- 1 Quyết định 05/2010/QĐ-UBND ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành
- 2 Quyết định 3160/QĐ-UBND năm 2012 ủy quyền cho Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long đặt tên công trình công cộng có quy mô nhỏ trên địa bàn thành phố của tỉnh Quảng Ninh
- 3 Nghị quyết 17/2012/NQ-HĐND về đặt tên đường và công trình công cộng của thành phố Cần Thơ
- 4 Nghị quyết 105/2006/NQ-HĐND đặt tên, đổi tên đường trên địa bàn thị xã Gò Công do tỉnh Tiền Giang ban hành
- 5 Quyết định 10/2014/QĐ-UBND về Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Hà Nam
- 6 Quyết định 2875/QĐ-UBND năm 2013 công bố Danh mục văn bản, quy định pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành từ năm 1997 đến năm 2011 hết hiệu lực thi hành tính đến ngày 31/10/2013
- 7 Quyết định 27/2014/QĐ-UBND về Quy chế đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh An Giang
- 8 Quyết định 3558/QĐ-UBND năm 2015 về đặt tên tuyến đường thuộc địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An và huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
- 1 Quyết định 05/2010/QĐ-UBND ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành
- 2 Quyết định 2875/QĐ-UBND năm 2013 công bố Danh mục văn bản, quy định pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành từ năm 1997 đến năm 2011 hết hiệu lực thi hành tính đến ngày 31/10/2013
- 3 Quyết định 19/2014/QĐ-UBND sửa đổi Quy chế đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Bình Dương kèm theo Quyết định 28/2010/QĐ-UBND
- 1 Nghị định 91/2005/NĐ-CP về Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng
- 2 Thông tư 36/2006/TT-BVHTT hướng dẫn thực hiện Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng kèm theo Nghị định 91/2005/NĐ-CP do Bộ Văn hóa Thông tin ban hành
- 3 Luật di sản văn hóa 2001
- 4 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân 2003
- 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2004
- 6 Quyết định 3160/QĐ-UBND năm 2012 ủy quyền cho Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long đặt tên công trình công cộng có quy mô nhỏ trên địa bàn thành phố của tỉnh Quảng Ninh
- 7 Nghị quyết 17/2012/NQ-HĐND về đặt tên đường và công trình công cộng của thành phố Cần Thơ
- 8 Nghị quyết 105/2006/NQ-HĐND đặt tên, đổi tên đường trên địa bàn thị xã Gò Công do tỉnh Tiền Giang ban hành
- 9 Quyết định 10/2014/QĐ-UBND về Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Hà Nam
- 10 Quyết định 27/2014/QĐ-UBND về Quy chế đặt tên, đổi tên đường và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh An Giang
- 11 Quyết định 3558/QĐ-UBND năm 2015 về đặt tên tuyến đường thuộc địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An và huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương