Quyết định 337-HĐBT được ban hành năm 1991 bởi Hội đồng Bộ trưởng, do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phan Văn Khải ký, nhằm thiết lập các biện pháp cấp bách quản lý ngoại tệ trong thời gian trước mắt, bảo đảm sự thống nhất quản lý nhà nước về ngoại hối và ổn định thị trường tiền tệ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Quyết định này áp dụng đối với mọi tổ chức, đơn vị có nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ với nước ngoài, bán hàng và thu ngoại tệ trong nước (bao gồm cả các nguồn thu của Bộ Tài chính), các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ, cùng các cơ quan quản lý nhà nước liên quan trong phạm vi cả nước.
Quy định về quản lý và sử dụng nguồn thu ngoại tệ của các tổ chức, đơn vị
- Mọi nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu, dịch vụ nước ngoài, bán hàng thu ngoại tệ trong nước và các khoản thu khác đều phải gửi vào tài khoản mở tại các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Số ngoại tệ gửi này được hưởng lãi suất bằng ngoại tệ theo quy định.
- Ngoại tệ trên tài khoản được sử dụng cho các mục đích hợp pháp bao gồm: thanh toán tiền hàng nhập khẩu có giấy phép của Bộ Thương mại và Du lịch; chi trả dịch vụ cho nước ngoài; thanh toán nợ vay ngân hàng và nợ nước ngoài; góp vốn vào xí nghiệp liên doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; và các khoản chi chuyển ra nước ngoài khác theo quy định.
- Các tổ chức, đơn vị được quyền bán ngoại tệ cho ngân hàng được phép hoặc bán tại các trung tâm giao dịch ngoại tệ. Khi có nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp, các đơn vị đã bán ngoại tệ sẽ được ngân hàng đáp ứng bán lại. Trường hợp nhu cầu vượt quá số lượng đã bán, ngân hàng sẽ xem xét cân đối hoặc hỗ trợ mua hộ tại các trung tâm giao dịch.
- Nghiêm cấm các đơn vị (ngoại trừ các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ) thực hiện việc cho vay, thanh toán, mua bán hoặc chuyển nhượng ngoại tệ trực tiếp với nhau.
Thống nhất quản lý hoạt động mua bán và tỷ giá ngoại tệ
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm thống nhất quản lý toàn bộ hoạt động mua bán ngoại tệ trên phạm vi cả nước thông qua hệ thống các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ và các trung tâm giao dịch ngoại tệ.
- Tỷ giá giữa đồng Việt Nam (VND) và các loại ngoại tệ do Ngân hàng Nhà nước công bố chính thức, được xác định trên cơ sở tỷ giá giao dịch thực tế tại các trung tâm giao dịch ngoại tệ.
Công tác phối hợp điều hành và cân đối vĩ mô
- Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại và Du lịch để lập bảng cân đối thu chi ngoại tệ. Công tác này nhằm phục vụ việc nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu và chi trả nợ của Nhà nước trong 3 tháng cuối năm 1991 (bao gồm cả phần gối đầu cho kế hoạch năm 1992), trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định.
- Bộ Thương mại và Du lịch có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ việc cấp giấy phép nhập khẩu, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc mua bán ngoại tệ.
- Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ kiểm tra sát sao việc sử dụng ngoại tệ của các đơn vị, đồng thời tổ chức và vận hành hiệu quả các trung tâm giao dịch ngoại tệ, các quầy thu đổi ngoại tệ để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Xây dựng cơ chế quản lý đồng bộ cho giai đoạn tiếp theo
- Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Thương mại và Du lịch, Bộ Tài chính có trách nhiệm khẩn trương xây dựng các cơ chế quản lý đồng bộ bao gồm: kế hoạch hóa xuất nhập khẩu, quản lý xuất nhập khẩu, và quản lý tài chính đối ngoại. Các cơ chế này phải được ban hành đồng bộ với quy chế quản lý ngoại hối để chính thức áp dụng từ đầu năm 1992.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Tất cả các quy định trước đây trái với Quyết định này đều bị bãi bỏ. Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các nội dung của Quyết định này.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 337-HĐBT | Hà Nội , ngày 25 tháng 10 năm 1991 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NGOẠI TỆ TRONG THỜI GIAN TRƯỚC MẮT
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu những vật tư, hàng hoá thiết yếu và chi trả dịch vụ của những tháng cuối năm 1991, đồng thời từng bước thiết lập trật tự trong quản lý ngoại hối theo hướng thực hiện Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước.
QUYẾT ĐỊNH
- Chi trả tiền hàng nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Thương mại và Du lịch, trả dịch vụ cho nước ngoài, trả nợ vay ngân hàng và vay của nước ngoài, góp vốn vào xí nghiệp liên doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và chi trả các khoản khác ra nước ngoài theo quy định.
- Bán cho các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ hoặc bán tại trung tâm giao dịch ngoại tệ.
- Những tổ chức và đơn vị đã bán ngoại tệ cho ngân hàng, khi có nhu cầu ngoại tệ theo quy định trên, ngân hàng có trách nhiệm bán ngoại tệ cho tổ chức và đơn vị. Trường hợp đơn vị có yêu cầu chi lớn hơn số đã bán cho ngân hàng sẽ được ngân hàng xem xét đáp ứng trong khả năng ngoại tệ ngân hàng điều hoà được, hoặc ngân hàng mua hộ cho đơn vị tại các trung tâm giao dịch ngoại tệ.
Các đơn vị (trừ các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ) không được cho vay, thanh toán, mua bán, chuyển nhượng với nhau bằng ngoại tệ.
Bộ Thương mại và Du lịch kiểm tra chặt chẽ việc cấp giấy phép nhập khẩu để làm cơ sở cho việc mua bán ngoại tệ.
Điều 6. Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Thương mại và Du lịch, Bộ Tài chính, xây dựng ngay các cơ chế: kế hoạch hoá xuất nhập khẩu, quản lý xuất nhập khẩu, quản lý tài chính đối ngoại, ban hành đồng bộ với quy chế quản lý ngoại hối để thực hiện vào đầu năm 1992.
Điều 7. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Quyết định này đều bãi bỏ.
Điều 8. Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã Ký) |