Quyết định 418-TTg được ban hành năm 1997 bởi Thủ tướng Chính phủ, quy định chi tiết về chế độ trang phục đối với cán bộ, nhân viên thi hành án dân sự nhằm bảo đảm tính trang nghiêm, thống nhất trong hoạt động thi hành án dân sự.
Đối tượng áp dụng chế độ trang phục
Quyết định này áp dụng đối với các đối tượng sau đây:
- Cán bộ, nhân viên công tác tại Cục Quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
- Cán bộ, nhân viên công tác tại các cơ quan thi hành án dân sự địa phương (ngoại trừ đối tượng là Chấp hành viên).
Danh mục trang phục và phụ kiện được cấp phát
Các đối tượng thuộc diện áp dụng được cấp phát các loại trang phục, phụ kiện bao gồm:
- Phù hiệu gắn trên mũ và ve áo (riêng phù hiệu trên ve áo không có hình thanh kiếm và lá chắn; phù hiệu trên mũ thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định 30/CP ngày 02 tháng 6 năm 1993).
- Quần áo thu đông kèm theo áo sơ mi dài tay.
- Quần áo xuân hè.
- Mũ Kêpi và mũ cứng.
- Các phụ kiện khác bao gồm: Ca-vát, giầy da, tất chân, thắt lưng da, áo mưa và cặp da đựng tài liệu.
- Mẫu mã và màu sắc cụ thể của quần áo do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.
Nguyên tắc cấp phát và sử dụng trang phục
Việc quản lý, cấp phát và sử dụng trang phục phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sau:
- Cấp phát lần đầu: Đối với quần áo thu đông, quần áo xuân hè và áo sơ mi dài tay, cán bộ, nhân viên được cấp phát lần đầu với số lượng hai bộ.
- Mục đích sử dụng: Trang phục được cấp chỉ phục vụ cho công tác, nghiêm cấm mọi hành vi cho mượn, mua bán, đổi chác hoặc làm quà tặng cho người khác.
- Trường hợp hư hỏng, mất mát: Nếu trang phục bị mất hoặc hư hỏng do nguyên nhân khách quan, có lý do chính đáng thì sẽ được xem xét cấp lại hoặc đổi mới.
- Thu hồi phù hiệu khi thôi việc: Khi cán bộ, nhân viên chuyển công tác khác, nghỉ việc theo chế độ hoặc thôi công tác tại cơ quan thi hành án dân sự vì bất kỳ lý do nào thì bắt buộc phải nộp lại phù hiệu.
- Trách nhiệm thu hồi: Cục trưởng Cục Quản lý thi hành án dân sự Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm thu hồi phù hiệu của cán bộ, nhân viên thuộc Cục. Giám đốc Sở Tư pháp chịu trách nhiệm thu hồi phù hiệu của cán bộ, nhân viên thuộc các cơ quan thi hành án dân sự địa phương khi họ thôi công tác.
Niên hạn sử dụng các loại trang phục
Thời gian sử dụng (niên hạn) đối với từng loại trang phục và phụ kiện được quy định cụ thể như sau:
- Quần áo thu đông: Cấp 3 năm một bộ.
- Quần áo xuân hè: Cấp 2 năm một bộ.
- Áo sơ mi dài tay: Cấp 1 năm một cái.
- Cà-vát: Cấp 2 năm một chiếc.
- Giầy da: Cấp 1 năm một đôi.
- Thắt lưng da: Cấp 2 năm một chiếc.
- Cặp da đựng tài liệu: Cấp 3 năm một chiếc.
- Tất chân: Cấp 1 năm một đôi.
- Áo mưa: Cấp 1 năm một chiếc.
- Mũ Kêpi: Cấp 2 năm một chiếc.
- Mũ cứng: Cấp 2 năm một chiếc.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
- Hiệu lực: Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành.
- Trách nhiệm hướng dẫn: Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp hướng dẫn thi hành các nội dung của Quyết định này.
- Trách nhiệm thi hành: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 418-TTg | Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 1997 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ CHẾ ĐỘ TRANG PHỤC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, NHÂN VIÊN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ vào Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 21 tháng 4 năm 1993;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Phù hiệu gắn trên mũ, ve áo;
2. Quần áo thu đông kèm áo sơ mi dài tay, quần áo xuân hè, mũ Kêpi, mũ cứng, Ca-vát, giầy da, tất chân, thắt lưng da, áo mưa, cặp da đựng tài liệu;
3. Mẫu, mầu sắc quần áo do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định cụ thể; phù hiệu gắn trên mũ được thực hiện theo Khoản 1 Điều 16 Nghị định 30/CP ngày 02 tháng 6 năm 1993; riêng phù hiệu trên ve áo không có thanh kiếm, lá chắn.
Điều 2. Nguyên tắc cấp và sử dụng trang phục:
1. Các đối tượng được cấp trang phục theo thời hạn quy định tại
2. Không được phép cho người khác mượn, mua bán, đổi chác, làm quà tặng;
3. Trường hợp trang phục bị mất hoặc hư hỏng có lý do chính đáng thì được xét cấp hoặc đổi lại;
4. Nếu cán bộ, nhân viên thi hành án dân sự đã được cấp trang phục mà chuyển công tác khác, nghỉ việc theo chế độ hoặc vì lý do khác mà thôi công tác ở cơ quan thi hành án dân sự thì phải nộp lại phù hiệu.
Cục trưởng Cục Quản lý thi hành án dân sự Bộ Tư pháp có trách nhiệm thu nhận lại phù hiệu của cán bộ, nhân viên thì hành án dân sự công tác tại Cục Quản lý thi hành án dân sự. Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thu nhận lại phù hiệu của cán bộ, nhân viên thi hành án dân sự công tác tại các cơ quan thi hành án dân sự thuộc địa phương mình khi họ thôi công tác ở các cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại Khoản 4 Điều này.
Điều 3. Niên hạn trang phục được quy định như sau:
- Quần áp thu đông: Ba năm một bộ;
- Quần áo xuân hè: Hai năm một bộ;
- Áo sơ mi dài tay: Một năm một cái;
- Cà-vat: Hai năm một chiếc;
- Giầy da: Một năm một đôi;
- Thắt lưng da: Hai năm một chiếc;
- Cặp da đựng tài liệu: Ba năm một chiếc;
- Tất chân: Một năm một đôi;
- Áo mưa: Một năm một chiếc;
- Mũ Kêpi: Hai năm một chiếc;
- Mũ cứng: Hai năm một chiếc.
Điều 4. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Điều 5. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Quyết định này.
Điều 6. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993
- 3 Nghị định 30-CP năm 1993 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên
- 4 Thông tư 1385/1997/TTLT-BTC-BYT hướng dẫn cấp phát, quản lý trang phục cho cán bộ, nhân viên thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp- Bộ Tài Chính ban hành