Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Quyết định 47/1997/QĐ-NH21 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành kèm theo Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ phát triển Nông thôn (RDF). Đây là văn bản pháp lý quan trọng thiết lập khung khổ quản lý nguồn vốn tài trợ cho các dự án phát triển kinh tế nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành công nghiệp, dịch vụ liên quan tại Việt Nam.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Quy chế này áp dụng đối với Ban quản lý các dự án Ngân hàng (PMU), các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước, các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, các Định chế Tài chính (FIs) được lựa chọn tham gia dự án "Tài chính Nông thôn", và các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện tiểu dự án nhận tài trợ từ Quỹ RDF.

Các nội dung cốt lõi của Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ phát triển nông thôn (RDF):

- Tiêu chuẩn và điều kiện đối với các tiểu dự án hợp lệ

  • Quỹ RDF được sử dụng để tài trợ cho các khoản đầu tư ngắn, trung và dài hạn khả thi tại khu vực nông thôn, bao gồm cả vốn lưu động kèm theo do các doanh nghiệp thực hiện.
  • Các lĩnh vực được xem xét tài trợ bao gồm: Hoạt động sản xuất liên quan đến nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp nông thôn (thủy sản, chế biến hoa quả, nông sản, thực phẩm, đóng gói, ép dầu...); các dịch vụ hỗ trợ kinh tế nông thôn nhằm tạo việc làm và khuyến khích xuất khẩu (vận tải, may mặc, thêu đan, thủ công mỹ nghệ...).
  • Yêu cầu kỹ thuật và tài chính: Tiểu dự án phải đảm bảo tính khả thi về kỹ thuật, kinh tế, lành mạnh về tài chính và tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam.
  • Giới hạn đối với doanh nghiệp nhà nước: Các doanh nghiệp Nhà nước quy mô vừa và nhỏ (tổng tài sản không quá 2.000.000 USD và dưới 500 lao động) chỉ được nhận tối đa 5% hạn mức tín dụng cấp cho một Định chế Tài chính tại từng thời điểm.
  • Điều kiện sở hữu: Doanh nghiệp thụ hưởng phải có tối thiểu 70% quyền sở hữu thuộc về người Việt Nam.
  • Loại trừ: Các hoạt động đầu tư liên quan đến đất đai hoàn toàn không hợp lệ để nhận tài trợ từ Quỹ RDF.

- Quy trình cho vay, giải ngân và quản lý rủi ro tín dụng

  • Trách nhiệm của Định chế Tài chính: Tự chịu trách nhiệm đánh giá, thẩm định, quyết định cho vay, thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn, đồng thời chịu mọi rủi ro tín dụng phát sinh từ các khoản cho vay này.
  • Phân cấp thẩm quyền giải ngân dựa trên giá trị khoản vay:
    • Khoản vay dưới 20.000 USD: PMU giải ngân từ tài khoản đặc biệt dựa trên sao kê chi tiêu và tiến hành hậu kiểm hồ sơ thẩm định sau khi giải ngân.
    • Khoản vay từ 20.000 USD đến dưới 150.000 USD: PMU xem xét và thông qua hồ sơ thẩm định trước khi giải ngân. Trường hợp Định chế Tài chính có năng lực thẩm định tốt được Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) chấp thuận, có thể giải ngân trước dựa trên sao kê chi tiêu và hậu kiểm sau.
    • Khoản vay từ 150.000 USD trở lên: Bắt buộc phải có sự chấp thuận trước của IDA đối với tiểu dự án trước khi PMU giải ngân hoặc rút vốn.
  • Thời hạn nộp hồ sơ: Định chế Tài chính phải gửi toàn bộ hồ sơ vay lại, chứng từ mua sắm và thanh toán cho PMU trong vòng tối đa 60 ngày kể từ ngày giải ngân. Nếu vi phạm, khoản vay sẽ bị bãi bỏ, thu hồi và áp dụng phí phạt.

- Thời hạn cho vay

  • Thời hạn Ngân hàng Nhà nước cho các Định chế Tài chính vay (khoản vay phụ) phải phù hợp với thời hạn của các khoản vay lại mà Định chế Tài chính cấp cho khách hàng.
  • Thời hạn hoàn trả vốn gốc của các khoản vay lại không được vượt quá 10 năm hoặc không vượt quá thời hạn hoàn vốn của tiểu dự án (tùy theo thời hạn nào ngắn hơn). Thời gian ân hạn được xác định dựa trên cân đối dòng tiền của tiểu dự án.
  • Đối với các khoản vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động, thời hạn vay tối đa không quá 12 tháng.

- Cơ chế xác định lãi suất cho vay

  • Ngân hàng Nhà nước cho các Định chế Tài chính vay bằng đồng Việt Nam (VNĐ) hoặc Đô la Mỹ (USD) tùy theo tính chất dự án và quy định quản lý ngoại hối:
    • Đối với vốn vay bằng VNĐ: Áp dụng lãi suất biến động điều chỉnh hàng quý, tương đương chi phí bình quân gia quyền thực tế của các nguồn vốn có thể cho vay trong hệ thống ngân hàng (lấy lãi suất tiền gửi bình quân gia quyền làm tham chiếu, có tính đến chi phí dự trữ bắt buộc).
    • Đối với vốn vay bằng USD: Áp dụng lãi suất biến động điều chỉnh hàng quý, mức tối thiểu bằng lãi suất LIBOR 6 tháng cộng thêm biên độ chênh lệch ít nhất 1%/năm để bù đắp chi phí hoạt động của PMU và dự phòng rủi ro mất vốn.
  • Lãi suất cho vay lại đối với khách hàng: Do các Định chế Tài chính tự quyết định phù hợp với chính sách lãi suất nội bộ và quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ. Khách hàng có thể lựa chọn lãi suất cố định hoặc lãi suất biến động.

- Cơ cấu nguồn vốn tài trợ tiểu dự án

  • Định chế Tài chính phải tự tham gia góp vốn tối thiểu bằng 10% tổng chi phí của tiểu dự án từ nguồn vốn tự có của mình.
  • Bên vay lại (khách hàng) phải có phần vốn đối ứng tối thiểu do Định chế Tài chính quyết định dựa trên kết quả thẩm định, nhưng không được thấp hơn 15% chi phí tiểu dự án (được tính bằng tiền mặt hoặc ngoại tệ, không tính giá trị đất đai).
  • Mức tài trợ tối đa từ nguồn vốn Quỹ RDF cho mỗi tiểu dự án không được vượt quá 75% tổng chi phí của tiểu dự án đó.

- Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm

  • Ngân hàng Nhà nước thực hiện kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc sử dụng vốn vay của các Định chế Tài chính.
  • Trường hợp Định chế Tài chính không thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn, Ngân hàng Nhà nước có quyền tuyên bố toàn bộ dư nợ chưa đến hạn thành đến hạn, chuyển khoản vay quá hạn, ngừng cho vay mới từ Quỹ RDF, đồng thời áp dụng phí phạt bằng 150% mức lãi suất đang áp dụng đối với số nợ quá hạn.

- Quy định về bảo đảm tiền vay, chế độ báo cáo và kiểm toán

  • Bảo đảm tiền vay: Các hoạt động cầm cố, thế chấp tài sản và bảo hiểm tài sản thế chấp phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam.
  • Chế độ báo cáo: Các Định chế Tài chính có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước để phục vụ công tác giám sát và báo cáo cho IDA.
  • Kiểm toán bắt buộc: Hàng năm, các Định chế Tài chính phải gửi báo cáo tài chính đã được kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Hiệu lực thi hành

Quyết định 47/1997/QĐ-NH21 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Việc sửa đổi, bổ sung các điều khoản trong Quy chế này thuộc thẩm quyền quyết định duy nhất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 47/1997/QĐ-NH21

Hà Nội, ngày 28 tháng 2 năm 1997

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG QUỸ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Căn cứ Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước ngày 24/5/1990,
Căn cứ Nghị định 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Quyết định 5551/QHQT ngày 2/10/1995 của Chính phủ về việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng Ngân hàng bán buôn của Dự án tài chính nông thôn do Ngân hàng thế giới tài trợ;
Căn cứ Hiệp định Tín dụng phát triển số 2855/VN ký ngày 19/7/1996 giữa Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA) và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Theo đề nghị của ông Trưởng ban quản lý các Dự án Ngân hàng,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này "Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ phát triển Nông thôn (RDF)".

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Điều 3. Chánh văn phòng Thống đốc, Trưởng ban quản lý các dự án Ngân hàng, thủ trưởng các đơn vị có liên quan thuộc Ngân hàng Nhà nước, Giám đốc các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, Tổng giám đốc (Giám đốc) các định chế tài chính được lựa chọn tham gia dự án "Tài chính Nông thôn" có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

 

 

Cao Sĩ Kiêm

(Đã ký)

 

QUY CHẾ

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG QUỸ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 47/QĐ-NH21 ngày 28 tháng 2 năm 1997 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) đã dành một khoản tín dụng phát triển cho Dự án "Tài chính nông thôn" nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Một phần của khoản tín dụng phát triển này sẽ được đưa vào Quỹ phát triển Nông thôn (RDF) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập và quản lý. Việc đầu tư cho các tiểu dự án của các doanh nghiệp vừa và nhỏ được thực hiện thông qua các định chế tài chính.

I. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG:

Điều 1. Trong Quy chế này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Quỹ phát triển Nông thôn (RDF): là một Quỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập và quản lý trong khuôn khổ Dự án "Tài chính nông thôn". Nguồn vốn của Quỹ này lấy từ khoản tín dụng phát triển do IDA tài trợ cho Dự án "Tài chính Nông thôn".

1.2. Hiệp hội phát triển quốc tế là một tổ chức thuộc ngân hàng thế giới (IDA).

1.3. Ban quản lý dự án (PMU): là Ban quản lý các Dự án ngân hàng được thành lập theo Quyết định 269/QĐ-NH9 ngày 23/9/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

1.4. Khoản vay phụ: khoản vốn của Quỹ RDS mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các Định chế tài chính vay.

1.5. Khoản vay lại: Khoản vốn mà định chế Tài chính vay từ Quỹ RDF cho các doanh nghiệp có tiểu dự án hợp lệ vay lại.

1.6. Doanh nghiệp: Bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, xí nghiệp liên doanh, doanh nghiệp tư nhân.

1.7. Tiểu dự án: Dự án của doanh nghiệp được thực hiện bằng khoản vay lại.

1.8. Định chế tài chính: Các định chế tài chính được thành lập và đang hoạt động tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lựa chọn để tham gia vào Dự án phù hợp với các tiêu chí lựa chọn quy định tại Quy chế này.

Điều 2. Mục tiêu:

Thông qua các Định chế Tài chính, các nguồn vốn của Quỹ RDF sẽ được cho vay lại tới các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn nhằm đáp ứng được các mục tiêu sau đây:

2.1. Tăng nguồn vốn tín dụng trung hạn và dài hạn cho khu vực nông thôn trừ thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

2.2. Khuyến khích việc cạnh tranh giữa các Định chế Tài chính trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính trong khu vực nông thôn.

2.3. Tăng cường năng lực cho các Định chế Tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính nông thôn.

2.4. Tăng cường khả năng tiếp cận của dân nghèo nông thôn với các nguồn tín dụng chính thức, góp phần hạn chế việc cho vay nặng lãi ở nông thôn, nâng cao mức sống của nhân dân.

II. CÁC QUY ĐỊNH CỤ THỂ:

Điều 3. Các Định chế Tài chính thuộc đối tượng được xem xét vay từ Quỹ RDF:

3.1. Các Ngân hàng thương mại quốc doanh.

3.2. Các Ngân hàng thương mại cổ phần.

3.3. Các Định chế Tài chính khác.

Điều 4. Tiêu chuẩn lựa chọn các Định chế Tài chính được vay vốn của Quỹ RDF.

4.1. Tính hợp pháp:

Phải là các Định chế Tài chính được thành lập, tổ chức và đang hoạt động phù hợp với các quy định pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như các quy định khác của Nhà nước Việt Nam, đồng thời tuân thủ mọi luật, quy định và quy chế hiện hành ở Việt Nam.

4.2. Có khả năng thanh toán:

Một Định chế Tài chính được coi là có khả năng thanh toán khi giá trị các tài sản hoạt động của nó đủ trang trải các khoản nợ của nó, đặc biệt là các khoản nợ đối với những người gửi tiền và những người cho vay.

Việc xác định khả năng thanh toán của các Định chế Tài chính sẽ dựa vào các chỉ số tài chính sau:

4.2.1. Tỷ lệ nợ quá hạn ròng không vượt quá 5% so với tổng số vốn cho vay (nợ quá hạn ròng được xã định bởi nợ quá hạn trừ đi dự phòng cho vay không thu hồi được);

4.2.2. Tỷ lệ thích đáng của vốn không được thấp hơn 10% (tỷ lệ thích đáng của vốn được xác định bởi vốn tự có hay vốn cổ phần thuần tuý so với tài sản rủi ro - bao gồm các khoản cho vay và các khoản đầu tư, ngoại trừ các khoản đầu tư vào chứng khoán của Chính phủ).

Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp, tỷ lệ thích đáng của vốn càng cao thì khả năng thanh toán của các Định chế Tài chính càng cao.

4.3. Có khả năng thanh khoản:

Một Định chế Tài chính được coi là có khả năng thanh khoản khi nó có thể chuyển đổi nhanh các tài sản có của mình ra tiền mặt hoặc khi các tài sản có động (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại các ngân hàng, các khoản đầu tư bằng vàng hay chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ) đủ để trang trải các khoản nợ ngắn hạn của nó (xác định bằng các khoản tiền gửi không kỳ hạn, ngắn hạn và dịch vụ nợ đối với các khoản vay đến hạn trong vòng 1 năm).

Tỷ lệ thanh khoản được xác định bởi tài sản có động trên các tài sản nợ ngắn hạn phải không được thấp hơn 40%.

Tỷ lệ thanh khoản càng cao thì khả năng thanh khoản của các Định chế Tài chính càng cao.

4.4. Có khả năng sinh lợi và tính hiệu quả:

Khả năng sinh lợi và tính hiệu quả của một Định chế Tài chính được xác định bằng các chỉ số tài chính sau.

4.4.1. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE), tức là lợi nhuận ròng sau khi nộp thuế so với vốn tự có hay vốn cổ phần.

4.4.2. Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản có sinh lời, trong đó tài sản có sinh lời được xác định bằng tổng các khoản cho vay cộng các khoản đầu tư (lợi nhuận ròng trong năm trên tài sản có sinh lời) lớn hơn 5%.

Khi xem xét các tiêu chuẩn trên còn phải tính đến khả năng sinh lời danh nghĩa và khả năng sinh lời thực tế nhằm đảm bảo vốn cổ phần của các Định chế Tài chính không bị hao mòn bởi lạm phát, tức là tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần lớn hơn tỷ lệ lạm phát hàng năm. ROE thực tế được xác định bởi lợi nhuận ròng trong năm trên vốn cổ phần trừ tài sản cố định vào thời điểm đầu năm.

4.5. Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ:

Định chế Tài chính phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ quản lý và chuyên môn phù hợp với các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

4.6. Khả năng được lựa chọn tạm thời:

Các tiêu chuẩn lựa chọn các Định chế Tài chính tham gia (Định chế Tài chính) được nêu trên đây cùng với các tỷ lệ nêu ở mục 4.2, 4.3, 4. 4 của phần này đều dựa trên tiêu chuẩn của các ngân hàng Thương mại quốc tế mà IDA đưa ra áp dụng. Trong trường hợp một Định chế Tài chính chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn ở trên, định chế này vẫn có thể được tạm thời lựa chọn. Để tham gia vào dự án này, Định chế Tài chính đó phải gửi cho PMU xem xét và thông qua với sự đồng ý của IDA kế hoạch phát triển thể chế của mình cùng với chương trình đào tạo thích hợp và thời gian biểu cụ thể để đạt được những tiêu chuẩn nêu trên. PMU sẽ chịu trách nhiệm theo dõi và giám sát việc thực hiện các kế hoạch này thông qua những đợt đánh giá bán niên kết thúc vào ngày 30 tháng 6 và ngày 31 tháng 12 mỗi năm và trình kết quả đánh giá đó cho IDA xem xét trước ngày 30/9 và ngày 31/3 hàng năm.

Trường hợp Định chế Tài chính không tuân thủ các tiêu chuẩn lựa chọn hoặc kế hoạch phát triển thể chế đã được thông qua và không thực hiện được các biện pháp khắc phục do PMU đề xuất, PMU có quyền cắt phần vốn vay chưa cam kết của khoản vay phụ và tiến hành các biện pháp cần thiết để bảo toàn phần dư nợ đã cam kết.

Điều 5. Các tiểu dự án hợp lệ:

5.1. Quỹ Phát triển Nông thôn (RDF) sẽ được sử dụng để tài trợ cho các khoản đầu tư ngắn, trung và dài hạn, khả thi trong khu vực nông thôn và vốn lưu động kèm theo do các doanh nghiệp thực hiện phù hợp với các mục tiêu của dự án. Các tiểu dự án thuộc các lĩnh vực sau sẽ được xem xét là hợp lệ để nhận tài trợ từ quỹ RDF:

5.1.1. Các hoạt động sản xuất khả thi liên quan đến nông, lâm, ngư ngiệp và các ngành công nghiệp nông thôn khác như thủy sản, công nông nghiệp, sản xuất hàng hoá, xây dựng, chế biến hoa quả, nông sản và thực phẩm, đóng gói, ép dầu...

5.1.2. Các hoạt động đầu tư khả thi do các doanh nghiệp dịch vụ thực hiện nhằm hỗ trợ hoạt động kinh tế nông thôn nhằm tạo công ăn việc làm và khuyến khích xuất khẩu như: vận tải, may mặc, thuê đan và thủ công mỹ nghệ ...

5.2. Để được coi là hợp lệ, các tiêu dự án phải có tính khả thi về mặt kỹ thuật cũng như về mặt kinh tế, lành mạnh về tài chính và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường của Việt Nam.

5.3.Các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô vừa và nhỏ chỉ được nhận vốn vay tối đa không quá 5% hạn mức tín dụng được cấp cho một Định chế Tài chính từ Quỹ RDF tại từng thời điểm. Các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô vừa và nhỏ là các doanh nghiệp có tổng tài sản có không quá 2. 000.000 USD và có dưới 500 nhân công.

5.4. Các doanh nghiệp được coi là hợp lệ phải có tối thiểu 70% quyền sở hữu thuộc về người Việt Nam.

5.5. Các hoạt động đầu tư vào đất đai là không hợp lệ.

Điều 6. Cho vay, thu nợ và lãi:

6.1. Việc đánh giá, chấp nhận các tiểu dự án và quyết định cho vay là trách nhiệm của các định chế tài chính. Các Định chế Tài chính phải có trách nhiệm thu hồi vốn và trả nợ đầy đủ, đúng hạn và chịu mọi rủi ro tín dụng liên quan tới các khoản vay này.

6.2. Đối với các khoản vay lại có giá trị thấp hơn 20.000 USD tương đương, PMU sẽ tiến hành giải ngân cho các Định chế Tài chính từ tài khoản đặc biệt trên cơ sở sao kê chi tiêu. PMU sẽ tiến hành xem xét lại hồ sơ thẩm định tiểu dự án do các Định chế Tài chính thực hiện sau khi giải ngân.

6.3. Đối với các khoản vay lại có giá trị trên 20.000 USD tương đương và dưới 150.000 USD tương đương PMU sẽ xem xét và thông qua hồ sơ thẩm định dự án do các Định chế Tài chính gửi lên trước khi chấp thuận giải ngân từ tài khoản đặc biệt. Tuy nhiên, dựa vào tình hình hoạt động của từng Định chế Tài chính trong việc thẩm định các tiểu dự án, PMU có thể yêu cầu IDA miễn việc PMU phải xem xét thông qua trước những hồ sơ thẩm định tiểu dự án đối với các khoản vay lại do Định chế Tài chính đó thực hiện. Nếu được IDA chấp thuận thì việc giải ngân cho Định chế Tài chính này đối với các khoản vay lại từ Quỹ RDF trên 20.000 USD tương đương và dưới 150.000 USD tương đương sẽ được thực hiện trên cơ sở các sao kê chi tiêu với sự xem xét sau của PMU.

6.4. Đối với các khoản vay lại trên 150.000 USD tương đương, phải được sự chấp thuận của IDA đối với tiểu dự án trước khi PMU cho phép giải ngân từ tài khoản đặc biệt hoặc rút tiền từ tài khoản tín dụng.

6.5. Trong mọi trường hợp, các Định chế Tài chính phải gửi hồ sơ về khoản vay lại, các chứng từ mua sắm và thanh toán theo đúng quy định cho PMU trong vòng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày giải ngân. Trường hợp Định chế Tài chính không gửi hoặc không có được hồ sơ về khoản vay lại theo yêu cầu nêu trên thì khoản vay lại đó sẽ bị bãi bỏ và thu hồi lại, đồng thời sẽ áp dụng một tỷ lệ phí phạt.

Điều 7. Thời hạn vay:

Thời hạn của các khoản vay phụ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các Định chế Tài chính vay sẽ phù hợp với thời hạn của các khoản vay lại do Định chế Tài chính thực hiện. Các khoản vay lại từ Quỹ RDF sẽ không được dùng để tài trợ cho các tiểu dự án có thời hạn hoàn vốn dự kiến quá 10 năm. Thời gian hoàn trả vốn gốc của các khoản vay lại từ Quỹ RDF (bao gồm thời gian ân hạn được xác định trên cơ sở dự kiến cân đối tiền mặt của tiểu dự án và khả năng hoàn trả của bên thụ hưởng) sẽ không vượt quá 10 năm hoặc không vượt quá thời hạn hoàn vốn của tiểu dự án nếu thời hạn này ngắn hơn 10 năm. Thời hạn của khoản vay ngắn hạn (vay lại từ Quỹ RDF) sẽ không vượt quá 12 tháng.

Điều 8.  Lãi suất:

8.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ cho các Định chế Tài chính vay bằng USD hay bằng VNĐ tuỳ theo tính chất và yêu cầu của các tiểu dự án hợp lệ và phù hợp với các quy định về quản lý ngoại hối của Việt nam đối với các mức lãi suất được xác định theo các nguyên tắc sau:

8.1.1. Đối với các khoản vay bằng VNĐ, áp dụng mức lãi suất biến động có thể được điều chỉnh hàng quý, tương đương với chi phí bình quân gia quyền thực tế của các khoản vốn có thể cho vay trong hệ thống ngân hàng. Lãi suất bình quân gia quyền của các khoản tiền gửi sẽ được sử dụng làm lãi suất tham khảo để tính chi phí của các khoản vốn cho các Định chế Tài chính vay. Lãi suất tham khảo này có tính tới những chi phí liên quan đến yêu cầu về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Các lãi suất tham khảo cho các khoản vay ngắn hạn (không quá 12 tháng) là mức lãi suất bình quân gia quyền của tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn 3 tháng. Các lãi suất tham khảo cho các khoản vay trung và dài hạn (trên 1 năm) là mức lãi suất bình quân gia quyền của tiền gửi 6 tháng và tiền gửi có kỳ hạn dài hơn trong hệ thống ngân hàng.

8.1.2. Đối với các khoản vay bằng USD, áp dụng lãi suất biến động có thể điều chỉnh hàng quý và không thấp hơn lãi suất LIBOR 6 tháng cộng với một khoản chênh lệch ít nhất là 1% trên năm đủ để bù đắp chi phí hoạt động của PMU liên quan đến các khoản vay phụ bao gồm cả dự phòng cho vay mất vốn.

8.2. Đối với các khoản cho vay lại do Định chế Tài chính thực hiện, áp dụng lãi suất phù hợp với chính sách lãi suất của từng Định chế Tài chính nhưng phải phù hợp với những quy định về lãi suất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trong từng thời kỳ. Bên vay lại có thể lựa chọn mức lãi suất cố định trong toàn bộ thời hạn của khoản vay hoặc trong một giai đoạn nhất định hoặc theo lãi suất biến động được điều chỉnh định kỳ. Trong trường hợp Định chế Tài chính cho vay lại với lãi suất cố định thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ quy định mức lãi suất cố định áp dụng cho khoản vay phụ đối với Định chế Tài chính đó theo cách thức được IDA chấp thuận.

Điều 9.  Kiểm tra và xử lý vi phạm:

9.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ tiến hành kiểm tra việc sử dụng vốn vay của các Định chế Tài chính theo định kỳ hoặc đột xuất.

9.2. Trong trường hợp Định chế Tài chính không thanh toán số tiền gốc và lãi đến hạn của một khoản vay phụ. Căn cứ vào thực tế của khoản vay này và tình hình tài chính của Định chế Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quyền thông báo tổng số dư nợ chưa đến hạn đối với Định chế Tài chính vay từ Quỹ RDF là đến hạn hoặc thông báo khoản vay phụ này (khoản vay không thanh toán tiền gốc và lãi) là quá hạn; đồng thời Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không xem xét để cho Định chế Tài chính tiếp tục vay từ Quỹ RDF. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ tính tỷ lệ phí phạt mỗi tháng bằng 150% mức lãi suất đang áp dụng trên số nợ quá hạn đó và có thể áp dụng các chế tài cần thiết khác.

Điều 10.  Cầm cố, thế chấp và bảo hiểm:

Tất cả các hoạt động liên quan đến việc cầm cố, thế chấp của các khoản vay lại từ Quỹ RDF, các khoản vay phụ và các hoạt động liên quan đến việc bảo hiểm cho các tài sản cầm cố thế chấp đó phải tuân thủ các quy định về cầm cố, thế chấp và bảo hiểm của Việt Nam.

Điều 11. Tài trợ tiểu dự án:

Đối với mỗi tiểu dự án đã được chấp nhận, các Định chế Tài chính phải cho vay ít nhất 10% chi phí của tiểu dự án đó từ nguồn vốn của mình. Phần đóng góp tối thiểu của bên vay lại do Định chế Tài chính quyết định trên cơ sở thẩm định mỗi tiểu dự án, nhưng không dưới 15% chi phí của tiểu dự án và có thể được tính bằng tiền mặt hoặc ngoại tệ, trừ đất đai. Trong mọi trường hợp, các khoản vay lại từ Quỹ RDF cho mỗi tiểu dự án không được vượt quá 75% chi phí của tiểu dự án.

Điều 12. Chế độ báo cáo:

Định kỳ hoặc đột xuất, các Định chế Tài chính phải cung cấp các báo cáo và các thông tin khác theo yêu cầu cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để đáp ứng những mục đích giám sát hoặc để báo cáo cho IDA.

Điều 13. Kiểm toán:

Hàng năm vào thời gian quy định, các Định chế Tài chính phải gửi cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam các báo cáo tài chính của mình đã được kiểm toán bởi một Công ty kiểm toán độc lập được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp nhận.

III - ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH:

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 47/1997/QĐ-NH21 về Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ phát triển nông thôn do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành

Số hiệu: 47/1997/QĐ-NH21
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 28/02/1997
Nơi ban hành: Ngân hàng Nhà nước
Người ký: Cao Sĩ Kiêm
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 28/02/1997
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Tiền tệ - Ngân hàng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 47/1997/QĐ-NH21 về Quy chế quản lý...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký