Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Quyết định số 63/1998/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt Định hướng phát triển cấp nước đô thị Quốc gia đến năm 2020 nhằm định hướng cho việc phát triển ngành cấp nước đô thị phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời lập kế hoạch đầu tư phù hợp để phát triển hệ thống cấp nước các đô thị một cách ổn định và bền vững trong từng giai đoạn.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Quyết định này áp dụng đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp nước đô thị và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động quy hoạch, đầu tư, xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống cấp nước đô thị trên phạm vi toàn quốc.

Mục tiêu phát triển cấp nước đô thị quốc gia

Định hướng xác định rõ hai nhóm mục tiêu phát triển cụ thể theo từng giai đoạn như sau:

  • Mục tiêu trước mắt (đến năm 2000): Mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước đô thị, bảo đảm 80% dân số đô thị được cấp nước sạch với tiêu chuẩn trung bình từ 80 đến 100 lít/người/ngày. Riêng các thành phố lớn gồm Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu đạt 100% dân số được cấp nước sạch với tiêu chuẩn từ 120 đến 150 lít/người/ngày. Bảo đảm cấp nước đầy đủ cho nhu cầu công nghiệp, văn hóa và xã hội. Thực hiện cải tạo, nâng cấp các công trình cũ, giảm tỷ lệ thất thoát nước xuống còn 40% ở các khu đô thị hiện có và 30% ở các khu đô thị mới. Chuyển đổi các công ty cấp nước thành doanh nghiệp công ích, từng bước xóa bỏ bao cấp, tính đúng tính đủ giá nước để trang trải chi phí đầu tư và phát triển.
  • Mục tiêu lâu dài (đến năm 2020): Tiến hành điều tra, khảo sát và khai thác đi đôi với bảo vệ tài nguyên nước quốc gia tại các vùng miền khác nhau, đặc biệt chú ý tới các đô thị vùng ven biển, vùng khô hạn, vùng núi và cao nguyên. Phấn đấu đạt chỉ tiêu 100% dân số đô thị được cấp nước sạch với tiêu chuẩn từ 120 đến 150 lít/người/ngày; riêng Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh đạt tiêu chuẩn từ 180 đến 200 lít/người/ngày. Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý và tư vấn thiết kế. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới, hiện đại hóa hệ thống cấp nước và phát triển sản xuất thiết bị, vật tư chuyên ngành trong nước đạt chất lượng cao để hội nhập khu vực và quốc tế.

Các giải pháp chủ yếu thực hiện định hướng

Để đạt được các mục tiêu đề ra, Quyết định tập trung vào 5 nhóm giải pháp cốt lõi:

  • Khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn nước: Xây dựng chương trình điều tra, khảo sát, đánh giá tài nguyên nước và lập quy hoạch khai thác hợp lý. Thực hiện các dự án bảo vệ chống ô nhiễm nguồn nước, kiểm soát chặt chẽ việc khai thác nước ngầm cục bộ và bắt buộc phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án cấp nước.
  • Cải cách hệ thống tổ chức ngành cấp nước: Sắp xếp lại các tổ chức chưa hợp lý từ Trung ương đến địa phương, nâng cao vai trò quản lý điều hành của chính quyền địa phương và tăng cường năng lực toàn diện cho các công ty cấp nước.
  • Đổi mới chính sách tài chính: Thực hiện xã hội hóa ngành cấp nước, huy động nguồn lực từ mọi thành phần kinh tế, cộng đồng dân cư và các nguồn tài trợ quốc tế. Ban hành cơ chế giá nước mới nhằm bảo đảm các công ty cấp nước tự chủ về tài chính và tiến tới trang trải được chi phí thoát nước thải sinh hoạt đô thị.
  • Hiện đại hóa công nghệ và sản xuất thiết bị: Áp dụng công nghệ hiện đại tại các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu du lịch. Đối với các địa phương khác, áp dụng công nghệ thích hợp gắn với cải tạo công trình hiện có để tiết kiệm chi phí. Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của thiết bị để chủ động thay thế phụ tùng.
  • Phát triển nguồn nhân lực: Xây dựng chương trình đào tạo đồng bộ cho mọi đối tượng từ cán bộ quản lý đến công nhân vận hành. Tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo chuyên ngành và khuyến khích sự đóng góp của các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, phấn đấu đến năm 2005 đáp ứng đủ cán bộ, công nhân kỹ thuật đã qua đào tạo.

Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành

  • Trách nhiệm của Bộ Xây dựng: Bộ Xây dựng được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Công nghiệp, Y tế và các cơ quan liên quan để triển khai thực hiện, cụ thể hóa nội dung Định hướng và lập kế hoạch đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước đô thị hiệu quả trên cả nước.
  • Hiệu lực thi hành: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 63/1998/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 1998

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ QUỐC GIA ĐẾN NĂM 2020

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ này 30 tháng 9 năm 1992;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại tờ trình số 02/BXD-KTQH ngày 07 tháng 02 năm 1998,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1.- Phê duyệt Định hướng phát triển cấp nước đô thị Quốc gia đến năm 2020 với nội dung chủ yếu sau:

I. MỤC TIÊU:

Nhằm định hướng cho việc phát triển ngành cấp nước đô thị phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; từ đó, lập kế hoạch đầu tư phù hợp để phát triển hệ thống cấp nước các đô thị một cách ổn định và bền vững trong từng giai đoạn.

1. Mục tiêu trước mắt:

- Mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng các dịch vụ cấp nước đô thị; đảm bảo đến năm 2000 có 80% dân số đô thị được cấp nước sạch với tiêu chuẩn trung bình 80 - 100 lít/người/ngày. Các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu 100% dân số được cấp nước sạch với tiêu chuẩn 120 - 150 lít/người/ngày;

- Đảm bảo cấp nước cho nhu cầu công nghiệp và các nhu cầu văn hoá, xã hội trong các đô thị;

- Cải tạo, nâng cấp các công trình cấp nước quá cũ hoặc hiện nay chưa đảm bảo công suất thiết kế;

- Giảm tỷ lệ thất thoát nước và thất thu vào năm 2000 xuống 40% trong các khu đô thị hiện có 30% trong các khu đô thị mới;

- Các công ty cấp nước được xác định là các doanh nghiệp công ích; từng bước xoá bỏ chế độ bao cấp; giá nước được tính đúng, tính đủ để trang trải chi phí đầu tư xây dựng và phát triển;

- Lập lại kỷ cương trong ngành cấp nước đô thị ở tất cả các khâu từ quy trình công nghệ, sản xuất, kinh doanh, tài chính, dịch vụ đến quản lý Nhà nước; kiên quyết loại trừ các hiện tượng tiêu cực trong ngành nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao dân trí kết hợp xử phạt theo pháp luật; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống cấp nước đô thị.

2. Mục tiêu lâu dài:

- Điều tra, khảo sát, khai thác đi đôi với bảo vệ tài nguyên nước Quốc gia: các nguồn nước mặt, nước dưới đất, sông ngòi, hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo tại các vùng khác nhau, chú ý tới các đô thị vùng ven biển, vùng khô hạn, vùng núi, cao nguyên và các vùng đặc trưng khác;

Nâng cao chất lượng phục vụ cấp nước cho sản xuất và dân sinh tại các đô thị, tạo điều kiện giúp đỡ các công ty cấp nước tự chủ về tài chính, đồng thời thực hiện các nghĩa vụ công ích và chính sách xã hội; - Đến năm 2020 phấn đấu đạt chỉ tiêu cấp nước như sau: 100% dân số đô thị được cấp nước sạch với tiêu chuẩn 120 - 150 lít/người/ngày; đối với các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, phấn đấu đạt tiêu chuẩn 180 - 200 lít/người/ngày;

- Đào tạo cán bộ và đổi mới công tác quản lý phù hợp với đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng và Nhà nước; tăng cường năng lực các công ty tư vấn đủ mạnh để đảm đương được công tác lập dự án, thiết kế các hệ thống cấp nước;

- Phát triển khoa học kỹ thuật, tăng cường ứng dụng công nghệ mới thông qua chuyển giao công nghệ, từng bước hiện đại hoá hệ thống cấp nước trong các đô thị;

- Đẩy mạnh đầu tư cho sản xuất thiết bị, vật tư, phụ tùng trong nước với chất lượng cao để thị trường trong nước và quốc tế chấp nhận; - áp dụng các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm tiên tiến; đưa ngành cấp nước Việt Nam hội nhập với các nước trong khu vực, phù hợp với chính sách mở cửa và mở rộng hợp tác quốc tế của Đảng và Chính phủ.

II. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:

1. Khai thác, sử dụng hợp lý, bảo vệ nguồn nước và vệ sinh môi trường:

Để đáp ứng yêu cầu cấp nước do tăng trưởng dân số đô thị và cấp nước cho sản xuất, cho các hoạt động văn hoá - xã hội trong các đô thị, cần có chương trình tiếp tục điều tra, khảo sát, đánh giá cụ thể tài nguyên nước trên cơ sở các tài liệu đã có; quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước; có chiến lược dự trữ nguồn nước.

Cần thực hiện các dự án bảo vệ chống ô nhiễm nguồn nước và những hậu quả do khai thác nước ngầm không có quy hoạch; kiểm soát chặt chẽ hiện tượng khai thác giếng cục bộ. Các dự án cấp nước phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường.

2. Cải cách hệ thống tổ chức của ngành cấp nước từ trung ương đến địa phương:

Trên cơ sở tổ chức hiện nay, cần sắp xếp lại những tổ chức chưa hợp lý, từ các cơ quan chỉ đạo, quản lý ngành ở Trung ương; nâng cao vai trò quản lý của các cấp chính quyền địa phương trong việc điều hành công tác cấp nước trên từng địa bàn và đặc biệt là tăng cường năng lực cho các công ty cấp nước.

3. Đổi mới chính sách tài chính, tạo nguồn vốn cho công tác cấp nước đô thị:

- Thực hiện xã hội hoá ngành cấp nước đô thị, huy động sự đóng góp của mọi thành phần kinh tế và cộng đồng dân cư; tranh thủ sư giúp đỡ, tài trợ của các Chính phủ và các tổ chức quốc tế;

- Ban hành giá nước mới, đảm bảo cho các công ty cấp nước tự chủ về tài chính và tiến tới trang trải cho chi phí thoát nước thải sinh hoạt trong đô thị.

4. Hiện đại hoá công nghệ và sản xuất thiết bị, vật tư:

áp dụng công nghệ hiện đại cho hệ thống cấp nước trong các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, các đô thị mới, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các khu du lịch, trung tâm dịch vụ, thương mại.

áp dụng công nghệ thích hợp phổ biến ở nhiều địa phương, gắn liền với thực trạng các công trình đã có nhằm cải tạo và nâng cấp hệ thống cấp nước để đáp ứng yêu cầu cấp bách, tận dụng được trang thiết bị, vật tư trong nước, giảm giá thành đầu tư.

Công nghệ và thiết bị trong các hệ thống cấp nước cần đồng bộ, thống nhất để chủ động trong việc thay thế phụ tùng.

5. Phát triển nguôn nhân lực, đào tạo cán bộ và công nhân:

Xây dựng chương trình đào tạo đồng bộ từ cán bộ lãnh đạo, quản lý, khoa học kỹ thuật, kinh tế, tài chính đến công nhân vận hành, bảo dưỡng cho ngành cấp nước; củng cố, tăng cường năng lực cho các trường, các cơ sở đào tạo chuyên gia ngành cấp nước. Mặt khác, có chính sách khuyến khích, động viên sự tham gia đóng góp của các chuyên gia người Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài.

Phấn đấu đến năm 2005 đáp ứng đủ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật đã qua đào tạo cho tất cả các cấp từ Trung ương đến địa phương.

Điều 2.- Giao Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Công nghiệp, Y tế và các Bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện Định hướng phát triển cấp nước đô thị, cụ thể hoá các nội dung trong Định hướng, lập kế hoạch trước mắt và lâu dài, đảm bảo thực hiện có hiệu quả chương trình đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cấp nước các đô thị trong cả nước.

Điều 3.- Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

 

 

Ngô Xuân Lộc

(Đã ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 63/1998/QĐ-TTg phê duyệt định hướng phát triển cấp nước đô thị Quốc gia đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 63/1998/QĐ-TTg
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 18/03/1998
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Ngô Xuân Lộc
Ngày công báo: 30/04/1998
Số công báo: Số 12
Ngày hiệu lực: 18/03/1998
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Xây dựng - Đô thị
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 63/1998/QĐ-TTg phê duyệt định hướn...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký