Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Quyết định số 78-TTg được ban hành bởi Thủ tướng Chính phủ nhằm điều hành công tác xuất nhập khẩu năm 1994. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho thời kỳ phát triển mới, thúc đẩy tiến độ thực hiện các mục tiêu chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến năm 2000.

Phạm vi và đối tượng áp dụng: Quyết định này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng toàn bộ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu trên phạm vi cả nước.

Dưới đây là nội dung phân tích chi tiết các chính sách và quy định cốt lõi của Quyết định:

Định hướng tổng quát và chính sách khuyến khích xuất nhập khẩu

  • Khuyến khích sản xuất và xuất khẩu: Các chính sách, chủ trương và biện pháp quản lý xuất nhập khẩu năm 1994 được thiết kế theo hướng thông thoáng, khuyến khích tối đa việc phát triển sản xuất trong nước, mở rộng lưu thông hàng hóa và tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu.
  • Ưu đãi thuế nhập khẩu công nghệ: Nhà nước áp dụng chính sách ưu tiên, ưu đãi về thuế đối với việc nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ đầu tư công nghệ mới và nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
  • Xây dựng quy chế ngành hàng: Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và các ngành liên quan xây dựng mục tiêu, quy chế điều hành cụ thể cho từng ngành hàng xuất khẩu, bao gồm cả việc định hướng các dự án liên doanh đầu tư với nước ngoài.

Nguyên tắc quản lý hoạt động nhập khẩu

  • Sử dụng ngoại tệ hiệu quả: Hoạt động nhập khẩu phải được quản lý chặt chẽ, đúng hướng nhằm tối ưu hóa nguồn ngoại tệ của đất nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế.
  • Cân đối cung cầu và ổn định giá cả: Việc nhập khẩu phải phục vụ tốt cho sự cân đối chung giữa tiền và hàng, đảm bảo quan hệ cung cầu đối với từng ngành hàng, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng đột biến về giá cả trên thị trường.
  • Kiểm soát năng lực doanh nghiệp: Bộ Thương mại, hệ thống Ngân hàng và các ngành quản lý sản xuất có trách nhiệm nắm vững tình hình tài chính, năng lực hoạt động kinh doanh thực tế của doanh nghiệp khi giải quyết các nhu cầu nhập khẩu cụ thể.

Quản lý các mặt hàng trọng yếu và phân công trách nhiệm

  • Vai trò của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước: Là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc phối hợp với Bộ Thương mại và các ngành sản xuất để cân đối, quyết định danh mục hàng hóa và nhu cầu xuất nhập khẩu nhằm bảo đảm quan hệ cung cầu thị trường.
  • Các mặt hàng đặc biệt phải trình Thủ tướng phê duyệt: Đối với các mặt hàng chiến lược bao gồm gạo xuất khẩu, hạn mức gỗ sản xuất hàng xuất khẩu, xăng dầu, phân bón, sắt thép, xi măng, ô tô và xe gắn máy, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước khi công bố thực hiện.
  • Vai trò điều hành của Bộ Thương mại: Trên cơ sở định hướng của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và phê duyệt của Thủ tướng, Bộ Thương mại chịu trách nhiệm quản lý, điều hành trực tiếp việc xuất nhập khẩu; xây dựng quy chế điều hành nhằm tránh ách tắc lưu thông, ngăn chặn sốt giá và bảo hộ hợp lý hàng sản xuất trong nước.

Phát triển mạng lưới thương nghiệp và thị trường miền núi

  • Bộ Thương mại có trách nhiệm đẩy nhanh việc xây dựng tổ chức, quy chế điều hành mạng lưới thương nghiệp để nắm bắt sát sao nhu cầu của các khu vực và thị trường trong nước.
  • Đặc biệt chú trọng đến thị trường miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua việc tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm do địa phương sản xuất và đưa hàng hóa thiết yếu đến trực tiếp tay người dân.

Chính sách thuế và quản lý thương mại biên giới

  • Điều chỉnh thuế linh hoạt: Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các ngành sản xuất theo dõi sát sao tình hình thực tế để đề xuất Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh kịp thời các mức thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
  • Chấn chỉnh buôn bán biên giới: Hoạt động thương mại với các nước có chung đường biên giới phải được chấn chỉnh theo đúng các hiệp định thương mại đã ký kết và tập quán quốc tế. Bộ Thương mại ban hành quy chế quản lý riêng nhằm khuyến khích xuất khẩu hàng nội địa, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, hạn chế các mặt hàng gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và tiêu dùng trong nước.
  • Tập trung đầu mối thu thuế: Tổng cục Hải quan phối hợp với Bộ Tài chính triển khai việc tập trung toàn bộ công tác thu thuế hàng hóa xuất nhập khẩu về một đầu mối duy nhất là ngành Hải quan.

Cải cách thủ tục hành chính và quản lý hạn ngạch

  • Đơn giản hóa quy trình cấp phép: Bộ Thương mại thực hiện rà soát, cải tiến toàn bộ quy trình cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, cấp hạn ngạch và cấp giấy phép xuất nhập khẩu hàng hóa theo hướng đơn giản, thuận tiện cho doanh nghiệp, kiên quyết chống các hành vi sách nhiễu, tiêu cực.
  • Phê duyệt danh mục cấm xuất nhập khẩu: Phê duyệt danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu năm 1994. Danh mục này áp dụng thống nhất cho cả đường mậu dịch, viện trợ, quà biếu và quà tặng. Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan có trách nhiệm công bố công khai để thực hiện.
  • Quản lý hạn ngạch theo cam kết quốc tế: Bộ Thương mại công bố danh mục hàng hóa quản lý bằng hạn ngạch đối với các mặt hàng Việt Nam đã cam kết với nước ngoài; phối hợp với các Bộ liên quan xây dựng quy chế phân bổ hạn ngạch công khai, hợp lý và có sự điều chỉnh linh hoạt theo tình hình sản xuất của doanh nghiệp.

Chế độ thông tin, báo cáo và hiệu lực thi hành

  • Báo cáo định kỳ hàng quý: Bộ Thương mại phối hợp với Tổng cục Hải quan thực hiện báo cáo định kỳ hàng quý lên Thủ tướng Chính phủ (đồng gửi Ủy ban Kế hoạch Nhà nước) về tình hình xuất nhập khẩu, diễn biến thị trường trong và ngoài nước, đặc biệt là các mặt hàng chủ yếu; đồng thời kiến nghị điều chỉnh chỉ tiêu, hạn mức cho phù hợp với thực tế.
  • Trách nhiệm thi hành: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn và thi hành nghiêm túc Quyết định này.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 78-TTg

Hà Nội , ngày 28 tháng 2 năm 1994

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC ĐIỀU HÀNH CÔNG TÁC XUẤT NHẬP KHẨU NĂM 1994 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ ý kiến kết luận của Chính phủ tại phiên họp ngày 13 tháng 1 năm 1994;
Xét đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và của Bộ trưởng Bộ Thương mại,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Năm 1994 là năm mở đầu của thời kỳ phát triển mới nhằm thúc đẩy nhanh hơn nhịp độ thực hiện những mục tiêu của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000; do vậy, các chính sách, chủ trương và biện pháp quản lý và điều hành xuất nhập khẩu phải được nghiên cứu, giải quyết theo hướng khuyến khích tối đa việc phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông, tăng nhanh hơn nữa kim ngạch xuất khẩu; ưu tiên ưu đãi trong chính sách thuế đối với việc nhập khẩu để đầu tư công nghệ mới cũng như nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.

Bộ Thương mại cùng Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và các ngành hữu quan xây dựng các mục tiêu và qui chế điều hành đối với từng ngành hàng xuất khẩu trong năm 1994, kể cả việc định hướng các liên doanh đầu tư với nước ngoài theo các mục tiêu sản xuất hàng xuất khẩu của nước ta.

Điều 2.Đối với việc nhập khẩu, cần quản lý đúng hướng và chặt chẽ nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại tệ, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Việc nhập khẩu phải phục vụ tốt cân đối chung về tiền - hàng, cũng như quan hệ cung cầu đối với từng ngành hàng, không gây đột biến về giá cả.

Khi giải quyết cụ thể các nhu cầu nhập khẩu của các doanh nghiệp, Bộ Thương mại, hệ thống Ngân hàng và các ngành quản lý sản xuất phải nắm vững tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Điều 3.Đối với những mặt hàng quan trọng, thiết yếu cần định hướng cho nhu cầu sản xuất và đời sống chung của cả nước, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm chính cùng Bộ Thương mại và các ngành sản xuất hữu quan, cân đối, quyết định danh mục hàng hoá và nhu cầu xuất, nhập để bảo đảm tốt quan hệ cung cầu của thị trường. Riêng đối với các mặt hàng gạo xuất khẩu, hạn mức gỗ để sản xuất hàng xuất khẩu, xăng dầu, phân bón, sắt thép, xi măng, ô tô, xe gắn máy, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước khi công bố thực hiện.

Điều 4.Trên cơ sở các nhu cầu được Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cân đối, định hướng và các mặt hàng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nêu ở Điều 3, Bộ Thương mại là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, điều hành việc xuất khẩu, nhập khẩu để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước, ngoài nước; bàn với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và các ngành hữu quan xây dựng quy chế điều hành nhằm bảo đảm các mục tiêu: không gây ách tắc trong lưu thông hàng hoá, tránh để xẩy ra các cơn sốt về giá cả và bảo vệ hợp lý được hàng hoá sản xuất trong nước.

Điều 5. Thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 166-TB ngày 2 tháng 6 năm 1993, Bộ Thương mại phải xúc tiến nhanh hơn nữa trong việc xây dựng tổ chức, quy chế điều hành mạng lưới thương nghiệp để đáp ứng yêu cầu về quản lý và nắm bắt nhu cầu của các khu vực, thị trường trong nước; đặc biệt cần chú ý thị trường miền núi, vùng đồng bào dân tộc, tổ chức tốt việc tiêu thụ hàng sản xuất ra tại thị trường này và đưa hàng đến trực tiếp cho đồng bào dân tộc.

Điều 6.- Để đáp ứng yêu cầu khuyến khích xuất khẩu, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, quản lý chặt chẽ nhập khẩu và hỗ trợ việc sản xuất hàng hoá trong nước, giao Bộ Thương mại chủ trì cùng Bộ Tài chính và các ngành sản xuất hữu quan thường xuyên theo dõi và đề xuất để Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xử lý kịp thời thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp với tình hình thực tế và luật định.

Điều 7. Việc quản lý buôn bán giữa nước ta với các nước có chung biên giới cần được chấn chỉnh, thực hiện đúng hiệp định thương mại đã ký với các nước và tập quán thương mại quốc tế, các hợp đồng thương mại giữa các tổ chức được phép kinh doanh xuất - nhập khẩu của ta và của các nước có chung biên giới với nước ta.

Bộ Thương mại bàn với các ngành hữu quan để ban hành quy chế quản lý buôn bán với các nước có chung biên giới với nước ta, khuyến khích tối đa việc xuất khẩu hàng hoá của ta, kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu, đặc biệt là hạn chế việc nhập khẩu những hàng hoá có ảnh hưởng xấu đến sản xuất và tiêu dùng trong nước.

Tổng Cục Hải quan cùng Bộ Tài chính triển khai quyết định của Chính phủ về việc tập trung thu thuế hàng hoá xuất, nhập vào một đầu mối của ngành Hải quan.

Điều 8. Bộ Thương mại soát xét lại toàn bộ quy trình cấp giấy phép kinh doanh xuất, nhập khẩu, cấp hạn ngạch và cấp giấy phép xuất, nhập khẩu hàng hoá để cải tiến các quy trình này theo hướng đơn giản, thuận lợi cho các ngành doanh nghiệp xuất, nhập khẩu; chống các hiện tượng sách nhiễu và tiêu cực trong việc cấp giấy phép, nhằm thực hiện mục tiêu khuyến khích mạnh xuất khẩu, quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu.

Điều 9. Phê duyệt danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu do Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Thương mại trình tại công văn số 1040-TM/XNK ngày 1-2-1994 và Uỷ quyền Bộ trưởng Bộ Thương mại cùng Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan công bố để thực hiện trong kế hoạch năm 1994.

Danh mục hàng hoá này được áp dụng đối với nhập khẩu theo đường mậu dịch cũng như nhập khẩu theo đường viện trợ, quà biếu, quà tặng.

Điều 10. Bộ Thương mại công bố danh mục hàng hoá xuất, nhập khẩu quản lý bằng hạn ngạch được áp dụng đối với các mặt hàng mà Việt Nam có cam kết theo hiệp định thương mại với nước ngoài và do phía nước ngoài ấn định hạn ngạch; bàn với các Bộ hữu quan để có qui chế phân bổ, quản lý và điều hành một cách công khai, hợp lý và có điều chỉnh phù hợp với tình hình sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp.

Điều 11. Hàng quý, Bộ Thương mại phối hợp với Tổng cục Hải quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ (đồng gửi Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước) tình hình xuất khẩu, nhập khẩu và tình hình thị trường trong nước, ngoài nước, đặc biệt đối với những mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu đã được cân đối, định hướng; đồng thời cùng Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước kiến nghị việc điều chỉnh các chỉ tiêu, hạn mức và chính sách mặt hàng cho phù hợp tình hình sản xuất và cung cầu của thị trường.

Điều 12. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn và thi hành Quyết định này.

 

 

Phan Văn Khải

(Đã Ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 78-TTg điều hành công tác xuất nhập khẩu năm 1994 do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 78-TTg
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 28/02/1994
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: 31/05/1994
Số công báo: Số 10
Ngày hiệu lực: 15/03/1994
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Thương mại
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 78-TTg điều hành công tác xuất nhậ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký