Năm 1992, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 83-TTg phê duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Ba Bể (giai đoạn I). Quyết định này đặt nền móng pháp lý quan trọng cho việc bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên và phát triển bền vững khu vực danh thắng quốc gia Ba Bể.
Phạm vi áp dụng của Quyết định bao gồm toàn bộ ranh giới tự nhiên của Vườn quốc gia Ba Bể thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Cao Bằng và vùng đệm xung quanh. Đối tượng áp dụng trực tiếp là Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), các Bộ, ngành Trung ương có liên quan, Ban quản lý Vườn quốc gia và cộng đồng dân cư trong khu vực.
Ranh giới và quy mô diện tích của Vườn quốc gia Ba Bể
Theo phê duyệt, Vườn quốc gia Ba Bể có tổng diện tích tự nhiên bước đầu được xác định là 7.610 ha, tọa lạc tại tọa độ địa lý 105 độ 36 phút kinh đông và 22 độ 30 phút vĩ bắc. Ranh giới cụ thể được giới hạn như sau:
- Phía Bắc: Giáp xã Cao Thượng, kéo dài từ đỉnh 680 góc Tây Bắc Xím Tà Kèn qua các đỉnh núi, ngã ba suối Cám, sông Năng, ôm qua núi Lung Nham đến chân núi Lung Nham.
- Phía Đông: Giáp xã Cao Trí và Khang Ninh, chạy dọc theo suối chân núi Lung Nham đến sông Năng, vòng qua động Puông, các đỉnh núi đá và men theo chân núi Khao Vay đến Pu Cút Hạ.
- Phía Nam: Giáp xã Quảng Khê, kéo dài từ Pu Cút Hạ đến sông Chợ Lèn.
- Phía Tây: Giáp các xã Quảng Khê, Nam Cường, Xuân Lạc (thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Thái cũ) và huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang).
- Vùng đệm: Bao gồm toàn bộ khu vực đầu nguồn của các con suối chảy trực tiếp vào hồ Ba Bể.
Nhiệm vụ chiến lược của Vườn quốc gia Ba Bể
Quyết định phân định rõ ràng các nhiệm vụ của Vườn quốc gia theo hai giai đoạn:
- Nhiệm vụ trước mắt: Tập trung tổ chức quản lý, bảo tồn nghiêm ngặt hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệ nguồn gen động vật và thực vật quý hiếm cả trên cạn lẫn dưới nước; quy hoạch, sắp xếp và ổn định đời sống của cư dân trong vùng lõi phù hợp với yêu cầu bảo vệ; từng bước thực hiện khoanh nuôi, phục hồi rừng tại phân khu phục hồi sinh thái.
- Nhiệm vụ lâu dài: Thực hiện toàn diện các chức năng của một vườn quốc gia theo quy chế của Bộ Lâm nghiệp, bao gồm nghiên cứu khoa học, tổ chức hoạt động tham quan du lịch sinh thái, tuyên truyền và giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ thiên nhiên cho cộng đồng.
Phân khu chức năng trong Vườn quốc gia
Để tối ưu hóa công tác quản lý và bảo tồn, diện tích Vườn quốc gia Ba Bể được chia thành 4 phân khu chức năng chuyên biệt:
- Khu bảo vệ nghiêm ngặt (3.226 ha): Nằm ở trung tâm Vườn, bao gồm các khu rừng núi đá nguyên sinh chưa hoặc ít bị tác động bởi con người. Đây là sinh cảnh cư trú quan trọng của các loài động vật hoang dã quý hiếm, đặc biệt là loài voọc.
- Khu phục hồi sinh thái (3.623 ha): Nằm tiếp giáp với khu bảo vệ nghiêm ngặt về phía Bắc và phía Nam. Khu vực này gồm các diện tích rừng đã chịu tác động nhưng còn nhiều loài động, thực vật quý cần được khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên.
- Khu chuyên dùng (450 ha): Dành riêng cho các hoạt động quản lý hành chính, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu khoa học, dịch vụ du lịch, học tập và là nơi sinh sống, sản xuất của cư dân hợp pháp trong Vườn.
- Khu mặt hồ: Bao gồm toàn bộ diện tích hồ Ba Bể và các đảo nổi (An Mã, Khẩu Cúm, Bà Góa). Phân khu này có chức năng bảo tồn các loài thủy sản quý hiếm, nghiên cứu khoa học chuyên đề và khai thác du lịch, dịch vụ thủy sản trong giới hạn cho phép.
Mô hình tổ chức quản lý
Vườn quốc gia Ba Bể được xác định là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng. Trong giai đoạn I, hoạt động chủ yếu của Vườn tập trung vào công tác quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất và nhân lực để triển khai nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch trong các giai đoạn tiếp theo. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng có trách nhiệm thống nhất với Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp để quy định cụ thể về bộ máy tổ chức và biên chế hoạt động.
Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn I (1992 - 2000)
Chính phủ phê duyệt tổng mức vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước cho giai đoạn I là 3.600 triệu đồng (ba tỷ sáu trăm triệu đồng), phân bổ cụ thể cho các hạng mục:
- Chương trình quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng (khoanh nuôi tái sinh 4.000 ha rừng): 1.400 triệu đồng.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng (bao gồm nâng cấp 22 km đường ô tô, hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc): 1.250 triệu đồng.
- Xây dựng nhà làm việc, nhà ở cho cán bộ công nhân viên (quy mô 600 m2) và mua sắm trang thiết bị: 650 triệu đồng.
- Ổn định dân cư (di dời 8 hộ dân nhập cư trái phép ra ngoài ranh giới Vườn và ổn định đời sống cho các hộ dân cư trú hợp pháp): 300 triệu đồng.
- Bên cạnh nguồn vốn ngân sách, địa phương và Ban quản lý Vườn được phép huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư xây dựng nhưng phải bảo đảm đúng quy hoạch và mục tiêu bảo tồn.
Trách nhiệm triển khai và hiệu lực thi hành
Quyết định giao trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan:
- Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng và Bộ Lâm nghiệp phối hợp chỉ đạo chủ đầu tư sắp xếp thứ tự ưu tiên, thiết kế và thi công các hạng mục công trình bảo đảm chất lượng, tiến độ; nghiên cứu xác định lại ranh giới chính xác của Vườn và vùng đệm để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính thức; thực hiện tốt công tác định canh định cư và di dời dân cư trái phép.
- Các Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp, Tài chính, Xây dựng, Khoa học Công nghệ và Môi trường, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng và Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 83-TTg | Hà Nội , ngày 10 tháng 11 năm 1992 |
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT LUẬN CHỨNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ (GIAI ĐOẠN I)
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Xét luận chứng kinh tế kỹ thuật vườn quốc gia Ba Bể theo Tờ trình số 236-LN/KL ngày 9 tháng 2 năm 1991 của Bộ Lâm nghiệp và Tờ trình số 613 ngày 10 tháng 12 năm 1990 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng;
Căn cứ đề nghị của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước về việc phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật này (tờ trình số 1497-UB/XD/NL ngày 28 tháng 10 năm 1992),
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê chuẩn luận chứng kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng vườn quốc gia Ba Bể (giai đoạn I) theo những nội dung và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu sau:
1. Tên công trình: "Vườn quốc gia Ba Bể"
2. Địa điểm và phạm vi quản lý:
Vườn quốc gia Ba Bể thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Cao bằng, bước đầu được xác định như sau:
- Ở toạ độ địa lý: 105o36emdash độ kinh đông 22o30emdash độ vĩ bắc.
- Có danh giới:
Phía bắc giáp xã Cao Thượng (bắt đầu từ đỉnh 680 góc Tây Bắc Xím Tà Kèn đi về phía đông qua các đỉnh 765,822, ngã ba xuối Cám tới ngã ba suối Bể Tàu sông Năng, qua đỉnh 829, vòng ôm qua núi Lung Nham tới đầu suối chân núi Lung Nham).
Phía đông giáp xã Cao Trí và Khang Ninh (theo suối chân núi Lung Nham đến sông Năng giáp bản Vài, tới cách động Puông 1,2 km vòng ôm núi đá lên đỉnh 402,698 tới chân núi đá của đỉnh 789, qua đường Na Nầm tới chân đỉnh 817, men theo chân núi Khao Vay tới Pu Cút Hạ).
Phía nam giáp xã Quảng Khê (từ Pu Cút Hạ tới sông Chợ Lèn)
Phía tây giáp xã Quảng Khê, Nam Cường, Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn, Bắc Thái) và huyện Na Nang (Tuyên Quang).
- Tổng diện tích tự nhiên: 7610 ha
- Diện tích vùng đệm của vườn bao gồm toàn bộ vùng đầu nguồn của các suối chảy vào hồ Ba Bể.
3. Nhiệm vụ của vườn:
a) Nhiệm vụ trước mắt:
- Tổ chức tốt việc quản lý, bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, bảo tồn nguồn gen động, thực vật quý hiếm trên cạn, dưới nước và các cảnh quan thuộc phạm vi quản lý của vườn.
- Tiến hành quy hoạch, tổ chức lại và ổn định đời sống dân cư trong vùng phù hợp với yêu cầu bảo vệ vườn.
- Từng bước phục hồi lại rừng theo chương trình của vườn tại khu phục hồi sinh thái.
b) Nhiệm vụ lâu dài:
Thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ theo quy chế chung của vườn quốc gia (do Bộ Lâm nghiệp quy định) bao gồm các nhiệm vụ nêu trên và các nhiệm vụ về nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, tuyên truyền giáo dục về bảo vệ tự nhiên.
4. Phân khu chức năng:
a) Khu bảo vệ nghiêm ngặt nằm ở trung tâm vườn có diện tích 3226 ha. Gồm các khu rừng núi đá chưa hoặc ít bị tác động; các nơi cư trú của các loài động vật quý, đặc biệt là các loài voọc. Ranh giới của khu được xác định bởi các động núi đá hiểm trở, phía Bắc và phía Tây là núi Punốt chắp với phía Nam và phía Đông là suối Té Han và núi Kéo Sìu.
b) Khu phục hồi sinh thái có diện tích là 3623 ha, gồm các khu rừng liên tục ở phía Bắc và phía Nam tiếp giáp với khu bảo vệ nghiêm ngặt. Khu rừng này tuy đã bị tác động nhưng có nhiều loại động, thực vật quý cần được khoanh nuôi bảo vệ phục hồi
c) Khu chuyên dùng: diện tích là 450 ha, có chức năng chủ yếu là đảm bảo các hoạt động về quản lý hành chính, tổ chức các cơ sở phục vụ dịch vụ nghiên cứu khoa học, tham quan, học tập, du lịch khu dân cư và sản xuất của nhân dân được sinh sống trong vườn.
d) Khu mặt hồ bao gồm hồ Ba Bể và các đảo án mã, Khẩu Cúm, Bà Goá có chức năng bảo vệ các loại thuỷ sản quý hiếm; tiến hành nghiên cứu khoa học theo chuyên đề; khai thác thế mạnh về du lịch và kinh doanh thuỷ sản trong phạm vi cho phép
5. Tổ chức quản lý:
Vườn quốc gia Ba Bể là đơn vị trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao bằng, tổ chức quản lý và hoạt động của vườn trong giai đoạn một chủ yếu là quản lý bảo vệ, phục hồi rừng, từng bước chuẩn bị các điều kiện để thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, tổ chức quản lý và hoạt động của vườn, sau khi có sự thoả thuận của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng quy định tổ chức bộ máy và biên chế cụ thể của vườn bảo đảm hoạt động có hiệu quả.
6. Đầu tư cơ bản giai đoạn I:
a) Các hạng mục đầu tư:
- Xây dựng hệ thống cột mốc, ranh giới của vườn, và các phân khu chức năng;
- Khoanh nuôi bảo vệ phục hồi 4.000 ha rừng;
- Nâng cấp hệ thống đường ô tô 22 km (lập luận chứng kinh tế kỹ thuật riêng);
- Hệ thống điện, nước, thông tin;
- Nhà làm việc và nhà ở cán bộ, công nhân viên: 600 mét vuông;
- Di chuyển số hộ dân nhập cư trái phép ra ngoài vườn (8 hộ) và tổ chức ổn định đời sống số dân được cư trú hợp pháp trong vườn;
- Xây dựng vùng đệm (lập dự án riêng).
- Một số trang thiết bị cần thiết.
b) Vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
Tổng vốn đầu tư bằng ngân sách Nhà nước (từ năm 1992-2000) là ba ngàn sáu trăm (3.600) triệu đồng.
Trong đó:
- Chương trình quản lý bảo vệ, phục hồi rừng: 1400 triệu đồng,
- ổn định dân cư: 300 triệu đồng,
- Xây dựng cơ sở hạ tầng: 1250 triệu đồng,
- Nhà ở, làm việc và trang thiết bị: 650 triệu đồng.
Ngoài vốn ngân sách cấp, địa phương và vườn có thể huy động các nguồn vốn khác để xây dựng trong khuôn khổ bảo đảm quy hoạch, chức năng, nhiệm vụ và hiệu quả vốn đầu tư.
Điều 2. Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng và Bộ Lâm nghiệp có trách nhiệm chỉ đạo chủ đầu tư sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư, tổ chức thiết kế thi công các công trình (giai đoạn I) của luận chứng, bảo đảm đúng chất lượng và tiến độ thực hiện theo quy định.
Nghiên cứu xác định hợp lý diện tích phạm vi danh giới quản lý của vườn (bao gồm cả vùng đệm) để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính thức.
Tổ chức và ổn định đời sống dân cư trú hợp pháp trong vườn và tổ chức tốt việc di chuyển số dân cư trú trái phép ra khỏi vườn.
Điều 3. Bộ trưởng các Bộ Lâm nghiệp, Tài chính, Xây dựng, Khoa học công nghệ và môi trường; Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Thống đốc ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bao Bằng và Thủ trưởng các ngành có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã Ký) |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.