TỔNG QUAN VỀ QUYẾT ĐỊNH 85/2003/QĐ-UB
Quyết định 85/2003/QĐ-UB được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành nhằm thiết lập cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà làng truyền thống cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2004 - 2008. Chính sách này hướng tới mục tiêu bảo tồn, duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, đồng thời tạo không gian sinh hoạt cộng đồng, thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
HIỆU LỰC VÀ TRÁCH NHIỆM THI HÀNH CHUNG
Quyết định quy định rõ việc ban hành kèm theo chính sách hỗ trợ và phân công trách nhiệm triển khai cho các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh và địa phương:
- - Ban hành chính sách: Ban hành kèm theo Quyết định là Quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà làng truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam (áp dụng trong giai đoạn 2004 - 2008).
- - Cơ quan thực thi: Chánh Văn phòng HĐND&UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Văn hóa - Thông tin, Kế hoạch & Đầu tư, Tài chính - Vật giá, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm; Trưởng Ban Dân tộc và Miền núi; Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành liên quan và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã có dân tộc thiểu số cư trú chịu trách nhiệm thi hành.
- - Hiệu lực văn bản: Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN DỰ ÁN
Quyết định phân công chi tiết nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành và chính quyền địa phương trong công tác quản lý, triển khai xây dựng nhà làng truyền thống:
- - Trách nhiệm của UBND cấp huyện, thị xã: Là cơ quan chủ trì thực hiện dự án xây dựng nhà làng truyền thống các dân tộc thiểu số ở miền núi. Chủ tịch UBND huyện, thị xã có thẩm quyền quyết định việc phân bổ cụ thể và sử dụng kinh phí ngân sách tỉnh hỗ trợ, đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả. Hằng năm, UBND huyện, thị xã phải chủ động cân đối ngân sách địa phương để hỗ trợ xây dựng hoặc mua sắm trang thiết bị cho các nhà làng truyền thống tại thôn, bản. Đối với các dân tộc chưa có mô hình nhà làng truyền thống, UBND cấp huyện/thị xã chủ trì khảo sát, nghiên cứu mô hình kiến trúc và lấy ý kiến thống nhất của nhân dân trước khi triển khai xây dựng.
- - Trợ lực từ các cơ quan, đơn vị kết nghĩa: Các Sở, Ban, ngành, cơ quan, đơn vị có hoạt động kết nghĩa với các xã miền núi đặc biệt khó khăn có trách nhiệm lập kế hoạch hỗ trợ, giúp đỡ trang thiết bị văn hóa thông tin (như sách báo, phương tiện nghe nhìn...) cho nhà làng truyền thống ở xã kết nghĩa.
- - Quản lý nguyên vật liệu và bảo vệ tài nguyên rừng: Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn phối hợp với Chi cục Kiểm lâm căn cứ Quyết định 178/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để tham mưu UBND tỉnh cho phép đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng gỗ và nguyên vật liệu tại chỗ phục vụ xây dựng nhà làng. Quá trình khai thác phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, đúng mục đích, hiệu quả và giữ gìn vốn rừng. Quyết định nghiêm cấm tuyệt đối các hành vi lợi dụng việc xây dựng nhà làng truyền thống để khai thác gỗ trái phép.
- - Tư vấn thẩm định kiến trúc và quản lý hoạt động văn hóa: Sở Văn hóa - Thông tin phối hợp với Ban Dân tộc và Miền núi có trách nhiệm tư vấn, thẩm định các mô hình nhà làng mới. Bên cạnh đó, Sở Văn hóa - Thông tin chịu trách nhiệm hướng dẫn nội dung và hình thức tổ chức các sinh hoạt, hoạt động văn hóa tại nhà làng, bảo đảm phát huy giá trị văn hóa gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- - Bố trí và giám sát nguồn vốn đầu tư: Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Sở Tài chính - Vật giá chịu trách nhiệm bố trí nguồn kinh phí hằng năm (giai đoạn 2004 - 2008) trình UBND tỉnh phân bổ cho các huyện triển khai dự án, đồng thời tổ chức kiểm tra việc quản lý và sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ đúng quy định pháp luật.
| UỶ BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 85/2003/QĐ-UB | Tam Kỳ, ngày 29 tháng 7 năm 2003 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ LÀNG TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở QUẢNG NAM
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước ngày 20/5/1998;
Căn cứ Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 11/10/2002 của Tỉnh uỷ Quảng Nam về một số chủ trương và giải pháp trọng tâm về dân tộc và miền núi giai đoạn 2002 -2007;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin tại Công văn số 162/VHTT ngày 10/7/2003,
QUYẾT ĐỊNH :
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này ''Quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà làng truyền thống các dân tộc thiểu số Quảng Nam (giai đoạn 2004 - 2008).
Điều 2. Chánh Văn phòng HĐND&UBND tỉnh, Giám đốc các Sở Văn hoá -Thông tin, Sở Kế hoạch &Đầu tư, Sở Tài chính - Vật giá, Sở Nông nghiệp &PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Trưởng Ban Dân tộc và Miền núi, các Sở, Ban, ngành liên quan và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã có dân tộc thiểu số cư trú chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.
|
Nơi nhận | TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
QUY ĐỊNH
VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ LÀNG TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở QUẢNG NAM (GIAI ĐOẠN 2004 - 2008)
(Ban hành kèm theo Quyết định số 85/2003/QĐ-UB ngày 29/7/2003 của UBND tỉnh Quảng Nam)
Điều 1. Quy định chung :
1. Nhà làng truyền thống các dân tộc thiểu số ở miền núi Quảng Nam là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hoá cộng đồng, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào góp phần tăng cường tinh thần đoàn kết dân tộc và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của địa phương, là thiết chế văn hoá ở cơ sở gắn với công tác xây dựng thôn, bản văn hoá các dân tộc thiểu số miền núi.
2. Xây dựng nhà làng truyền thống phải tôn trọng và giữ gìn các giá trị độc đáo về kiến trúc, vật liệu, nghệ thuật tạo hình, trang trí của từng dân tộc. Nhà làng phải do nhân dân trực tiếp xây dụng, quy mô xây dựng phải phù hợp với quy hoạch và bố trí dân cư của thôn, bản; phù hợp với điều kiện và nhu cầu tổ chức hội họp, sinh hoạt văn hoá cộng đồng của nhân dân.
3. Xây dựng nhà làng truyền thống thực hiện theo phương thức nhân dân đóng góp là chính, chính quyền các cấp hỗ trợ, tạo điều kiện, đồng thời thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá hoạt động văn hoá trong việc xây dựng, đầu tư trang thiết bị.
4. Nhà làng truyền thống cần giao cho ban dân chính thôn, bản trực tiếp quản lý, bảo vệ và sử dụng dưới sự giám sát của cấp uỷ Đảng, UBND xã, UBND huyện, thị xã chịu trách nhiệm quản lý toàn diện ở địa phương.
5. Thời gian thực hiện hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà làng truyền thống các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam là 5 năm (từ năm 2004 đến hết năm 2008). Phấn đấu đến năm 2008, tất cả các thôn, bản, làng có dân tộc thiểu số miền núi đều có nhà làng truyền thống.
Điều 2. Đối tượng và mức hỗ trợ :
1. Đối với nhà làng truyền thống xây dựng mới trong các năm 2004 đến 2008, mức hỗ trợ từ nguồn ngân sách tỉnh là 8 triệu đồng/nhà làng (tám triệu đồng).
2. Đối với nhà làng truyền thống đã xây dựng xong trong các năm 2000 đến 2003, mức hỗ trợ từ nguồn ngân sách tỉnh là 5 triệu đồng/1 nhà làng (năm triệu đồng) để mua sắm trang thiết bị văn hoá thông tin.
Điều 3. Thủ tục hỗ trợ :
1. UBND các huyện : Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà My, Hiệp Đức, Tiên Phước và các huyện đồng bằng có làng, xã đồng bào dân tộc thiểu số cư trú lập và phê duyệt dự án xây dựng nhà làng truyền thống ở địa phương mình theo kế hoạch hằng năm (khoản 1 điều 2 quy định này) và tổ chức khảo sát, điều tra số lượng nhà làng truyền thống đã xây dựng (khoản 2 điều 2 quy định này) báo cáo UBND tỉnh.
2. Sở Tài chính - Vật giá chủ trì phối hợp với Sở Văn hoá - Thông tin và các Sở, ngành liên quan kiểm tra dự án xây dựng nhà làng truyền thống (2004 - 2008) và báo cáo của các địa phương về nhà làng đã xây dựng (2000 - 2003) trình UBND tỉnh duyệt và hỗ trợ kinh phí hằng năm.
Điều 4. Tổ chức thực hiện :
1. UBND các huyện, thị xã là cơ quan chủ trì thực hiện dự án xây dựng nhà làng truyền thống các dân tộc thiểu số ở miền núi. Việc phân bổ cụ thể và sử dụng kinh phí ngân sách tỉnh hỗ trợ do Chủ tịch UBND huyện, thị xã quyết định, đảm bảo thiết thực, hiệu quả.
2. Ngoài kinh phí hỗ trợ từ ngân sách tỉnh, UBND huyện, thị xã cân đối ngân sách địa phường hằng năm để hỗ trợ xây dựng hoặc hỗ trợ mua sắm trang thiết bị cấp cho nhà làng truyền thống ở thôn, bản.
3. Các Sở, Ban, ngành, cơ quan, đơn vị kết nghĩa với các xã miền núi đặc biệt khó khăn có kế hoạch hỗ trợ, giúp đỡ về trang thiết bị văn hoá thông tin như sách báo, phương tiện thông tin nghe nhìn... cho nhà làng truyền thống ở xã kết nghĩa.
4. Sở Nông nghiệp & PTNT phối hợp Chi cục kiểm lâm căn cứ quyết định 178/2002/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp nhằm tham mưu UBND tỉnh cho phép đồng bào dân tộc thiểu số miền núi sử dụng gỗ, nguyên vật liệu tại chỗ để xây dựng nhà làng truyền thống, đảm bảo tiết kiệm, đúng mục đích, hiệu quả, giữ gìnvốn rừng. Nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng việc xây dựng nhà làng truyền thống để khai thác gỗ trái phép.
5. Đối với các dân tộc thiểu số chưa có mô hình nhà làng truyền thống, UBND các huyện, thị xã chủ trì tổ chức khảo sát, nghiên cứu xây dựng mô hình kiến trúc, lấy ý kiến thống nhất của nhân dân trước khi xây dựng. Sở Văn hoá - Thông tin phối hợp với Ban Dân tộc và Miền núi có trách nhiệm làm tư vấn thẩm định mô hình nhà làng mới.
6. Sở Văn hoá - Thông tin có trách nhiệm hướng dẫn nội dung và hình thức tổ chức các hoạt động văn hoá ở nhà làng truyền thống, đảm bảo giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá, góp phần phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội vùng miền núi, dân tộc thiểu số.
7. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm bố trí nguồn kinh phí hằng năm từ 2004 đến 2088 trình UBND tỉnh phân bổ cho các huyện triển khai dự án và kiểm tra việc sử dụng kinh phí hỗ trợ./.