- Mục tiêu và phạm vi quy hoạch phòng, chống lũ
- Mục tiêu cốt lõi:
- Xác định rõ mức độ bảo đảm an toàn phòng, chống lũ cho toàn bộ hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình.
- Xác định các thông số lũ thiết kế của tuyến sông bao gồm lưu lượng lũ thiết kế và mực nước lũ thiết kế cụ thể.
- Đề xuất đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình nhằm phòng, chống lũ hiệu quả cho từng địa phương nằm trong hệ thống sông.
- Tạo cơ sở pháp lý vững chắc để các Bộ, ngành và địa phương lập hoặc điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch chuyên ngành khác.
- Phạm vi quy hoạch: Áp dụng đối với tất cả các tỉnh, thành phố có hệ thống đê thuộc sông Hồng, sông Thái Bình bao gồm: Phú Thọ, Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam và các tỉnh thuộc khu vực thượng nguồn của hai hệ thống sông này.
- Tiêu chuẩn phòng, chống lũ hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình
- Giai đoạn 2007 - 2010: Bảo đảm khả năng chống lũ có chu kỳ lặp lại 250 năm (tương ứng tần suất 0,4%), với lưu lượng lũ thiết kế tương ứng tại trạm Sơn Tây là 42.600 m3/s.
- Giai đoạn 2010 - 2015: Nâng cao năng lực bảo đảm chống lũ có chu kỳ lặp lại 500 năm (tương ứng tần suất 0,2%), với lưu lượng lũ thiết kế tương ứng tại trạm Sơn Tây là 48.500 m3/s.
- Tiêu chuẩn phòng lũ đối với hệ thống đê tại các vị trí trọng điểm:
- Tại Hà Nội: Bảo đảm an toàn chống lũ tương ứng với mực nước sông Hồng tại trạm Long Biên là 13,4 m và khả năng thoát lũ tối thiểu đạt 20.000 m3/s.
- Tại Phả Lại: Bảo đảm an toàn chống lũ tương ứng với mực nước sông Thái Bình tại trạm Phả Lại là 7,2 m.
- Đối với các vùng khác thuộc hệ thống đê điều: Bảo đảm an toàn chống lũ tương ứng với mực nước sông Hồng tại trạm Long Biên là 13,1 m.
- Đối với phần lưu lượng lũ vượt quá khả năng thiết kế nêu trên, sẽ áp dụng phối hợp các giải pháp bổ trợ như điều tiết hồ chứa thượng lưu, phân lũ, chậm lũ và cải tạo lòng sông để tăng khả năng thoát lũ.
- Các giải pháp phòng, chống lũ chi tiết
- Điều tiết các hồ chứa cắt giảm lũ cho hạ du: Sử dụng dung tích phòng lũ của các hồ chứa lớn trên thượng nguồn để cắt giảm đỉnh lũ. Các chỉ tiêu kỹ thuật vận hành cụ thể bao gồm:
- Hồ Hòa Bình: Cao trình mực nước dâng bình thường là 117,0 m; mực nước dâng gia cường là 122,0 m; mực nước trước lũ thấp nhất là 88,0 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du đạt 4,9 tỷ m3.
- Hồ Tuyên Quang: Cao trình mực nước dâng bình thường là 120,0 m; mực nước dâng gia cường là 122,55 m; mực nước trước lũ thấp nhất là 90,0 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du đạt 1,0 tỷ m3.
- Hồ Thác Bà: Cao trình mực nước dâng bình thường là 58,0 m; mực nước dâng gia cường là 61,0 m; mực nước trước lũ thấp nhất là 56,0 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du đạt 0,45 tỷ m3.
- Hồ Sơn La: Cao trình mực nước dâng bình thường là 215,0 m; mực nước dâng gia cường là 217,83 m; phối hợp với hồ Hòa Bình tạo ra dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du đạt 7,0 tỷ m3.
- Tổng dung tích cắt lũ của bậc thang thủy điện trên sông Đà đạt 7,0 tỷ m3 và trên hệ thống sông Lô, sông Gâm đạt 1,5 tỷ m3. Khi xuất hiện lũ chu kỳ 500 năm, hệ thống hồ chứa này đảm bảo giữ mực nước tại Hà Nội không vượt quá 13,40 m. Việc vận hành phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình đầu mối.
- Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn: Xác định đây là giải pháp lâu dài nhằm tăng độ che phủ đất, chống xói mòn, hạn chế lũ quét và chống cạn kiệt nguồn nước. Mục tiêu đến năm 2010 trồng mới khoảng 2,0 triệu ha tại vùng Đông Bắc và 0,7 triệu ha tại vùng Tây Bắc, nâng độ che phủ rừng lên trên 55%. Sau năm 2010, tập trung bảo vệ, khai thác hợp lý và tiếp tục trồng bổ sung.
- Củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều:
- Thân đê: Giữ nguyên cao trình đê hiện tại, thực hiện đắp tôn cao, áp trúc mở rộng mặt cắt và đắp cơ đê theo tiêu chuẩn thiết kế; rà soát phát hiện ẩn họa; xây dựng các đường tràn sự cố phòng lũ cực hạn; trồng cây chắn sóng và cỏ bảo vệ mái đê.
- Nền đê: Áp dụng công nghệ và vật liệu mới để xử lý các đoạn nền đê địa chất yếu; lấp các đầm, hồ ao sát chân đê; đắp tầng phủ kéo dài đường thấm và đắp tầng phản áp chống đùn sủi, trượt mái đê.
- Mặt đê và hành lang bảo vệ: Gia cố mặt đê bằng bê tông để chống xói mòn khi nước tràn qua trong tình huống khẩn cấp, kết hợp làm đường giao thông nông thôn và cứu hộ; xây dựng đường hành lang chân đê để quản lý, ngăn chặn lấn chiếm.
- Phòng, chống sạt lở bờ sông: Kết hợp giải pháp công trình và phi công trình; ưu tiên xử lý các khu vực sạt lở đe dọa trực tiếp đến an toàn đê và khu dân cư tập trung; thực hiện di dời dân cư khỏi vùng nguy hiểm và nghiêm cấm xây dựng công trình mới tại đây.
- Cống qua đê: Đầu tư xây mới hoặc nâng cấp đảm bảo an toàn chống lũ, đủ tải trọng giao thông; thiết kế hệ thống lấy nước phù sa cải tạo đồng ruộng tại nơi có điều kiện; cương quyết hoành triệt các cống bị hư hỏng chưa được sửa chữa.
- Cải tạo lòng dẫn tăng khả năng thoát lũ: Quy hoạch lại các khu dân cư ngoài bãi sông để giải tỏa hành lang thoát lũ; kiểm soát chặt chẽ việc củng cố đê bối; giám sát nghiêm ngặt việc xây dựng công trình giao thông trên sông và bãi sông; thực hiện nạo vét cửa sông, bãi bồi theo lộ trình.
- Sử dụng các khu phân lũ, chậm lũ:
- Cơ chế kích hoạt: Khi các hồ chứa đã sử dụng hết dung tích phòng lũ mà mực nước sông Hồng tại Hà Nội dự báo vượt quá 13,4 m, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ công bố lệnh báo động khẩn cấp và thực hiện phân, chậm lũ.
- Giải pháp phân lũ: Chuyển một phần lưu lượng lũ từ sông Hồng vào sông Đáy qua đập Đáy; chuyển một phần lưu lượng từ sông Đà vào sông Tích qua đoạn đê Lương Phú (phá vỡ chủ động bằng mìn).
- Khả năng phân lũ vào sông Đáy (ứng với các kịch bản lũ sau khi hồ Hòa Bình cắt lũ): Lũ chu kỳ 200 năm phân lũ tối đa 3.200 m3/s (dung tích 0,94 tỷ m3, mực nước Hà Nội 13,25 m); lũ chu kỳ 300 năm phân lũ tối đa 3.480 m3/s (dung tích 1,28 tỷ m3, mực nước Hà Nội 13,73 m); lũ chu kỳ 500 năm phân lũ tối đa 3.680 m3/s (dung tích 1,43 tỷ m3, mực nước Hà Nội 14,09 m); lũ chu kỳ 1.000 năm phân lũ tối đa 3.900 m3/s (dung tích 1,63 tỷ m3, mực nước Hà Nội 14,49 m). Tiếp tục cải tạo sông Đáy để nâng khả năng thoát lũ lên 5.000 m3/s.
- Khả năng phân lũ qua Lương Phú: Lưu lượng thiết kế đạt 1.000 - 1.280 m3/s, tổng lượng lũ phân khoảng 0,9 - 1,0 tỷ m3, giúp giảm mực nước lũ tại Hà Nội từ 0,10 - 0,15 m.
- Giải pháp chậm lũ: Cắt một phần lượng lũ từ sông Đà và sông Hồng khoảng 200 triệu m3 vào khu chứa Tam Thanh (Phú Thọ); cắt một phần lượng lũ từ sông Lô khoảng 180 triệu m3 vào khu chứa Lập Thạch (Vĩnh Phúc).
- Tổ chức hộ đê và cứu hộ đê điều: Tiến hành thường xuyên trong mùa mưa bão theo phương châm "4 tại chỗ" (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ). Quân đội là lực lượng chủ lực phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương để ứng cứu kịp thời các sự cố đê điều.
- Các phương án chống lũ theo chu kỳ lặp lại
- Chống lũ chu kỳ 250 năm: Sử dụng hệ thống đê ngăn lũ kết hợp vận hành điều tiết các hồ chứa thượng lưu để cắt giảm lũ và thực hiện phân lũ vào sông Đáy.
- Chống lũ chu kỳ 500 năm: Sử dụng đê ngăn lũ kết hợp điều tiết hồ chứa thượng lưu, phân lũ vào sông Đáy, chủ động phân lũ qua Lương Phú và đưa lũ vào các khu chậm lũ Tam Thanh, Lập Thạch.
- Chống lũ chu kỳ 1.000 năm (lũ cực hạn): Áp dụng đồng bộ các biện pháp của chu kỳ 500 năm, đồng thời chủ động cho nước tràn qua các đường tràn cứu hộ trên đê và chấp nhận nước tràn qua các tuyến mặt đê đã được cứng hóa (bảo đảm không để xảy ra vỡ đê đột ngột).
- Tổ chức thực hiện quy hoạch
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
- Chủ trì lập và điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết cho từng tuyến sông có đê thuộc phạm vi quản lý của địa phương, bảo đảm tính thống nhất, kế thừa và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các vùng lân cận.
- Sử dụng quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết làm cơ sở để lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng tại khu vực bãi sông.
- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Chịu trách nhiệm phê duyệt quy hoạch và quy hoạch điều chỉnh chi tiết của địa phương sau khi có văn bản thỏa thuận thống nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Các Bộ, ngành Trung ương: Rà soát, điều chỉnh quy hoạch chuyên ngành của Bộ, ngành mình liên quan đến đê điều để bảo đảm phù hợp với Quy hoạch này và Luật Đê điều.
- Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương: Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, mưa lũ; tính toán phương án điều tiết và chỉ đạo vận hành các hồ chứa lớn cắt giảm lũ cho hạ du kết hợp nâng cao hiệu quả phát điện; kiểm tra, giám sát việc vận hành hồ chứa và chỉ đạo xử lý các tình huống khẩn cấp đe dọa an toàn đê điều.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
- Công bố quy hoạch và chỉ đạo, hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện.
- Chỉ đạo trực tiếp công tác bảo đảm an toàn cho hệ thống đê điều sông Hồng, sông Thái Bình.
- Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch; tổng hợp tình hình thực tế để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khi cần thiết.
- Hiệu lực thi hành
- Thời gian có hiệu lực: Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
- Trách nhiệm thi hành: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia tìm kiếm, cứu nạn và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 92/2007/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2007 |
PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH PHÒNG, CHỐNG LŨ HỆ THỐNG SÔNG HỒNG, SÔNG THÁI BÌNH
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Đê điều ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
QUYẾT ĐỊNH :
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phòng, chống lũ hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình với những nội dung chủ yếu sau đây:
1. Xác định mức bảo đảm phòng, chống lũ cho hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình.
2. Xác định lũ thiết kế của tuyến sông gồm lưu lượng lũ thiết kế và mực nước lũ thiết kế.
3. Xác định giải pháp công trình, phi công trình để phòng, chống lũ đối với từng địa phương thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình.
4. Làm cơ sở để lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết thuộc phạm vi quản lý của địa phương; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch khác liên quan của các Bộ, ngành, địa phương.
Bao gồm các tỉnh, thành phố có đê thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình: Phú Thọ, Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải Phòng,Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam và các tỉnh thượng nguồn của hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình.
III. Tiêu chuẩn phòng, chống lũ
1. Giai đoạn 2007 - 2010: bảo đảm chống lũ có chu kỳ 250 năm (tần suất 0,4%), lưu lượng tương ứng tại Sơn Tây 42.600 m3/s.
2. Giai đoạn 2010 - 2015: bảo đảm chống lũ có chu kỳ 500 năm (tần suất 0,2%), lưu lượng tương ứng tại Sơn Tây 48.500 m3/s.
3. Tiêu chuẩn phòng lũ đối với hệ thống đê:
- Tại Hà Nội: bảo đảm chống được lũ tương ứng với mực nước sông Hồng tại trạm Long Biên là 13,4 m và thoát được lưu lượng tối thiểu là 20.000 m3/s;
- Tại Phả Lại: bảo đảm chống được lũ tương ứng với mực nước sông Thái Bình tại trạm Phả Lại là 7,2 m;
- Đối với hệ thống đê điều các vùng khác: bảo đảm chống được lũ tương ứng với mực nước sông Hồng tại trạm Long Biên là 13,1 m;
Phần lưu lượng vượt quá khả năng trên sẽ được sử dụng các giải pháp khác: điều tiết hồ chứa, phân lũ, chậm lũ, cải tạo lòng sông thoát lũ,....
IV. Các giải pháp phòng, chống lũ
Các giải pháp phòng, chống lũ hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, bao gồm: điều tiết các hồ chứa cắt giảm lũ; trồng rừng phòng hộ đầu nguồn; củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều; cải tạo lòng dẫn tăng khả năng thoát lũ; thực hiện phân lũ, chậm lũ; tràn qua các đường tràn cứu hộ và có giải pháp bảo đảm an toàn đê trong trường hợp tràn toàn tuyến; tổ chức hộ đê và cứu hộ đê điều.
1. Điều tiết các hồ chứa cắt giảm lũ: các hồ chứa nước đã và đang xây dựng trên thượng nguồn hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình sẽ tham gia điều tiết cắt giảm lũ cho hạ du. Các chỉ tiêu kỹ thuật được sử dụng để lập quy trình điều tiết lũ đối với các hồ chứa nước:
a) Hồ Hòa Bình: cao trình mực nước dâng bình thường: 117,0 m; mực nước dâng gia cường: 122,0 m; mực nước trước lũ thấp nhất: 88,0 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du: 4,9 tỷ m3;
b) Hồ Tuyên Quang: cao trình mực nước dâng bình thường:120,0 m; mực nước dâng gia cường: 122,55 m; mực nước trước lũ thấp nhất: 90,0 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du: 1,0 tỷ m3;
c) Hồ Thác Bà: cao trình mực nước dâng bình thường: 58,0 m; mực nước dâng gia cường: 61,0 m; mực nước trước lũ thấp nhất: 56,0 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du: 0,45 tỷ m3;
d) Hồ Sơn La: cao trình mực nước dâng bình thường: 215,0 m; mực nước dâng gia cường: 217,83 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du (kết hợp với hồ Hòa Bình): 7,0 tỷ m3;
đ) Tổng dung tích cắt lũ của bậc thang sông Đà là 7 tỷ m3 và hệ thống sông Lô, Gâm là 1,5 tỷ m3. Với mức cắt giảm lũ trên, nếu xuất hiện lũ có chu kỳ lặp lại 500 năm thì có thể bảo đảm mực nước tại Hà Nội không vượt quá 13,40 m;
Trong mùa mưa lũ, các hồ chứa phải thực hiện việc cắt giảm lũ cho hạ du; đồng thời phải bảo đảm an toàn cho công trình. Việc vận hành cắt giảm lũ của các hồ chứa phải tuân thủ theo quy trình vận hành đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2. Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn:
- Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn là một trong những giải pháp quan trọng, lâu dài trong công tác phòng, chống lũ cho hạ du, nhằm tăng độ che phủ, chống xói mòn, chống cạn kiệt, phòng, chống lũ quét;
Tổ chức, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả chương trình trồng rừng, mục tiêu đến năm 2010, vùng Đông Bắc trồng thêm khoảng 2,0 triệu ha, vùng Tây Bắc trồng thêm khoảng 0,7 triệu ha, nâng độ che phủ của rừng lên trên 55%.
- Từ sau năm 2010, chú trọng công tác bảo vệ rừng và khai thác một cách hợp lý, bảo đảm duy trì độ che phủ và tiếp tục trồng rừng bổ sung ở những nơi có điều kiện để tăng thêm diện tích được che phủ.
3. Củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều:
a) Đê là giải pháp chống lũ cơ bản, lâu dài đối với đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Hệ thống đê hiện tại đã bảo đảm chiều cao chống được các trận lũ lớn đã từng xảy ra;
Cần giữ cao trình đê ở mức hiện tại, chú trọng việc đầu tư củng cố, nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống đê để bảo đảm an toàn chống lũ, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội.
b) Các giải pháp kỹ thuật củng cố, nâng cấp, kiên cố hóa đê điều bao gồm:
- Thân đê: đắp tôn cao, áp trúc mở rộng mặt cắt và đắp cơ đê để hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn thiết kế; phát hiện và xử lý ẩn họa trong thân đê; xây dựng các đường tràn sự cố phòng lũ cực hạn trên một số tuyến đê và trong khu vực phân lũ, chậm lũ; trồng cây chống sóng, trồng cỏ chống xói mòn bảo vệ mái đê, đồng thời tạo cảnh quan môi trường;
- Nền đê: áp dụng khoa học công nghệ mới, vật liệu mới để xử lý nền đối với những đoạn nền đê có địa chất yếu nhằm bảo đảm an toàn cho đê. Lấp đầm, hồ ao ven đê để tăng cường ổn định cho đê. Đắp tầng phủ nhằm kéo dài đường viền thấm; đắp tầng phản áp tăng khả năng chống trượt ở những khu vực nền đê yếu, thường xuyên bị đùn sủi;
- Cải tạo mặt đê, đường hành lang chân đê: gia cố mặt đê chủ yếu bằng bê tông để tăng ổn định cho thân đê khi mặt đê bị nước tràn qua trong trường hợp có lũ lớn, kết hợp làm đường giao thông nông thôn, làm đường sơ tán dân trong tình huống khẩn cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý đê, tổ chức hộ đê. Xây dựng đường hành lang chân đê phục vụ công tác quản lý đê, hộ đê, chống lấn chiếm thân đê và kết hợp làm đường gom ở những khu dân cư;
- Phòng, chống sạt lở bờ sông: việc xử lý sạt lở bờ sông cần kết hợp hài hoà giữa giải pháp công trình và phi công trình; đồng thời phải sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, vùng sạt lở đe doạ trực tiếp đến an toàn đê điều và các công trình phòng, chống lụt, bão; các khu tập trung dân cư, khu đô thị được ưu tiên xử lý trước;
Phải có kế hoạch di dời dân cư trong vùng sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở; đồng thời không quy hoạch xây dựng công trình và bố trí dân cư ở những vùng có nguy cơ sạt lở.
Đối với khu vực không có dân cư, công trình thì giải pháp bảo vệ bờ chủ yếu là trồng cỏ.
- Xây dựng, nâng cấp các cống qua đê: việc đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp các cống qua đê phải bảo đảm an toàn chống lũ, an toàn cho đê điều; phù hợp với mặt cắt thiết kế đê; đủ khả năng chịu tải khi kết hợp giao thông; những nơi có điều kiện thì thiết kế hệ thống lấy nước phù sa để cải tạo đồng ruộng; cầu công tác và dàn đóng mở phải đủ cao trình để bảo đảm hoạt động trong mùa lũ; xây dựng quy trình vận hành các cống qua đê. Thực hiện kiểm tra thường xuyên các cống qua đê, những cống bị hư hỏng nhưng chưa có điều kiện làm mới hoặc sửa chữa phải cương quyết hoành triệt để bảo đảm an toàn chống lũ.
c) Nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ: tăng cường nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ mới, vật liệu mới và các thiết bị tiên tiến trong quá trình quản lý, xây dựng, tu bổ, nâng cấp và kiên cố hóa công trình đê điều.
4. Cải tạo lòng dẫn:
- Rà soát, bổ sung điều chỉnh quy hoạch lại các vùng dân cư ngoài bãi sông hiện có, tạo lòng dẫn thông thoáng, tăng khả năng thoát lũ;
- Kiểm soát chặt chẽ việc củng cố các tuyến đê bối hiện có;
- Việc xây dựng các công trình giao thông ở lòng sông và bãi sông phải tuân thủ chặt chẽ pháp luật hiện hành;
- Từng bước thực hiện nạo vét cửa sông, bãi bồi để tăng khả năng thoát lũ.
5. Sử dụng các khu phân lũ, chậm lũ: khi có lũ lớn, các hồ chứa điều tiết cắt lũ cho hạ du đã sử dụng hết dung tích phòng lũ, mà dự báo lũ còn tiếp tục lên, mực nước sông Hồng tại Hà Nội có khả năng vượt 13,4 m, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định công bố lệnh báo động khẩn cấp về lũ lụt; đồng thời thực hiện phân lũ, chậm lũ theo Quy chế phân lũ, chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng ban hành kèm theo Nghị định số 62/1999/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ.
a) Phân lũ: nội dung phân lũ là chuyển một phần lưu lượng lũ từ sông Hồng vào sông Đáy qua cửa đập Đáy; chuyển một phần lưu lượng lũ từ sông Đà vào sông Tích qua đoạn đê được chủ động phá vỡ bằng mìn tại Lương Phú.
- Khả năng phân lũ vào sông Đáy: theo tính toán với địa hình lòng dẫn sông Đáy (bình đồ đo năm 1999 - 2000), nếu xảy ra những trận lũ lớn hơn lũ tháng 8 năm 1971, khi các hồ đã sử dụng hết dung tích phòng lũ thì khả năng phân lũ tối đa vào sông Đáy như sau:
|
Thứ tự |
Lũ có chu kỳ | QMAX Sơn Tây sau khi hồ Hòa Bình cắt lũ (m3/s) |
Phân lũ sông Đáy | HMAX tại Hà Nội (m) | |||||||
|
|
|
| Q max(m3/s) | W (109 m3) |
|
| ||||||
| 1 | 200 năm | 30.600 | 3.200 | 0,94 | 13,25 | ||||||
| 2 | 300 năm | 35.340 | 3.480 | 1,28 | 13,73 | ||||||
| 3 | 500 năm | 37.990 | 3.680 | 1,43 | 14,09 | ||||||
| 4 | 1.000 năm | 42.790 | 3.900 | 1,63 | 14,49 | ||||||
Tiếp tục cải tạo sông Đáy để bảo đảm thoát được 5.000 m3/s khi phân lũ vào sông Đáy.
- Khả năng phân lũ qua Lương Phú: lưu lượng phân lũ thiết kế qua Lương Phú khoảng 1.000 - 1.280 m3/s với tổng lượng lũ từ 0,9 - 1,0 tỷ m3. Hiệu quả phân lũ qua Lương Phú giảm mực nước lũ tại Hà Nội từ 0,10 - 0,15 m.
b) Chậm lũ: nội dung chậm lũ là cắt một phần tổng lượng lũ từ sông Đà và sông Hồng (khoảng 200 triệu m3) vào khu chứa Tam Thanh (Phú Thọ); cắt một phần tổng lượng lũ từ sông Lô (khoảng 180 triệu m3) vào khu chứa Lập Thạch (Vĩnh Phúc).
6. Xây dựng đường tràn cứu hộ đê: việc xây dựng các đường tràn cứu hộ đê nhằm chủ động cắt một phần đỉnh lũ vào một số vùng đã định sẵn để tránh xảy ra vỡ đê đột ngột.
7. Cứng hoá mặt đê chấp nhận tràn trong trường hợp lũ lớn bất khả kháng: cứng hoá mặt đê nhằm kết hợp làm đường giao thông nông thôn, làm đường sơ tán dân trong tình huống khẩn cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý đê, tổ chức hộ đê. Trong trường hợp lũ lớn bất khả kháng thì chấp nhận tràn nhưng không để vỡ đê.
8. Tổ chức hộ đê:
a) Hộ đê phải được tiến hành thường xuyên và là biện pháp cơ bản, quan trọng, đặc biệt là trong mùa lũ, bão; phải cứu hộ kịp thời khi đê điều có sự cố hoặc có nguy cơ bị sự cố;
b) Việc huy động lực lượng, vật tư, phương tiện để cứu hộ đê phải được thực hiện kịp thời theo phương châm 4 tại chỗ, đúng thẩm quyền theo quy định của Luật Đê điều. Trong công tác cứu hộ đê, quân đội là lực lượng chủ lực; đồng thời phối hợp với lực lượng của các Bộ, ngành, các địa phương để bảo đảm an toàn cho đê điều;
c) Vật tư, phương tiện, trang thiết bị cho công tác hộ đê phải được chuẩn bị đầy đủ theo phương án hộ đê cụ thể của từng địa phương, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, coi trọng ứng dụng vật liệu mới, khoa học công nghệ, thiết bị tiên tiến cho công tác này.
9. Các phương án chống lũ:
- Chống lũ có chu kỳ 250 năm: dùng đê ngăn lũ, kết hợp với vận hành điều tiết các hồ chứa ở thượng lưu cắt giảm lũ, phân lũ vào sông Đáy;
- Chống lũ có chu kỳ 500 năm: dùng đê ngăn lũ, kết hợp với vận hành điều tiết các hồ chứa ở thượng lưu cắt giảm lũ, phân lũ vào sông Đáy và phân lũ qua Lương Phú, sử dụng các khu chậm lũ: Tam Thanh, Lập Thạch;
- Chống lũ có chu kỳ 1.000 năm: dùng đê ngăn lũ, kết hợp với vận hành điều tiết các hồ chứa ở thượng lưu cắt giảm lũ, phân lũ vào sông Đáy và phân lũ qua Lương Phú, sử dụng các khu chậm lũ: Tam Thanh, Lập Thạch, cho nước tràn qua các đường tràn cứu hộ trên đê, chấp nhận nước tràn qua mặt đê.
V. Các phụ lục ban hành kèm theo Quyết định:
Ban hành kèm theo Quyết định này có các phụ lục để làm cơ sở cho các Bộ, ngành, địa phương trong việc lập, phê duyệt quy hoạch chi tiết liên quan đến các hoạt động phòng, chống lũ hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, bao gồm:
Phụ lục I: Thiệt hại nếu vỡ đê tại 38 vùng được đê bảo vệ thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình năm 2005 - 2020.
Phụ lục II: Thiệt hại nếu vỡ đê vùng đồng bằng sông Hồng ứng với các trường hợp lũ có độ ngập khác nhau.
Phụ lục III: Khả năng cắt lũ cho hạ du của hệ thống hồ chứa.
Phụ lục IV: Tác động của hồ chứa đến môi trường.
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết của từng tuyến sông có đê thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo nguyên tắc sau:
a) Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; mục tiêu quốc phòng, an ninh; chiến lược phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai; quy hoạch phòng, chống lũ, lụt của lưu vực sông; bảo đảm tính kế thừa, tính thống nhất và không ảnh hưởng đến các vùng lân cận;
b) Phù hợp với quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê theo nội dung quy hoạch này;
c) Bảo đảm thoát được lũ thiết kế và lũ lịch sử đã xảy ra của tuyến sông;
d) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện lập quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết của các tuyến sông có đê để làm cơ sở cho việc lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, trong đó có xây dựng ở bãi sông.
2. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phê duyệt quy hoạch, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết từng tuyến sông có đê của địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình sau khi có thỏa thuận của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật Đê điều.
3. Căn cứ vào Quy hoạch phòng, chống lũ sông Hồng, sông Thái Bình, các Bộ, ngành điều chỉnh quy hoạch của Bộ, ngành mình liên quan đến các hoạt động về đê điều theo quy định của Luật Đê điều.
4. Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương có trách nhiệm theo dõi diễn biến mưa lũ, tính toán các phương án điều tiết, chỉ đạo vận hành các công trình hồ chứa để cắt, giảm lũ cho hạ du và nâng cao hiệu quả phát điện; kiểm tra, giám sát việc vận hành các hồ chứa trong việc cắt, giảm lũ; chỉ đạo công tác phòng, chống lũ, lụt và xử lý các tình huống có ảnh hưởng đến an toàn công trình và của hệ thống đê điều ở hạ du.
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm:
a) Công bố và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê theo quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật Đê điều;
b) Chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn cho các công trình đê điều thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình;
c) Tổ chức chỉ đạo, kiểm tra và hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương liên quan thực hiện nội dung Quy hoạch phòng, chống lũ hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch khi cần thiết.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia tìm kiếm, cứu nạn và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
| THỦ TƯỚNG |
| (Click đôi vào biểu tượng bên dưới để mở file đính kèm)
| |
- 1 Thông báo 238/TB-VPCP năm 2014 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về Quy hoạch phòng, chống lũ và đê điều hệ thống sông Đáy do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2 Quyết định 257/QĐ-TTg năm 2016 phê duyệt Quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình do Thủ tướng Chính phủ ban hành
