Sắc lệnh số 11 do Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành nhằm quy định chi tiết về việc tổ chức chính quyền nhân dân tại các thị xã lớn. Đây là một trong những văn bản pháp lý đặt nền móng đầu tiên cho việc xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền đô thị của nhà nước cách mạng non trẻ, đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính và ổn định đời sống nhân dân trong tình hình mới.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Sắc lệnh
Sắc lệnh áp dụng đối với các thị xã lớn trên toàn quốc (bao gồm các đô thị trọng điểm thời bấy giờ như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn - Chợ Lớn). Đối tượng điều chỉnh trực tiếp là cơ cấu tổ chức, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính tại các đô thị này, cùng các cơ quan, tổ chức và công dân cư trú trên địa bàn.
Các nội dung cốt lõi của Sắc lệnh số 11
1. Phân chia địa giới hành chính tại các thị xã lớn
- Các thị xã lớn được tổ chức thành các đơn vị hành chính thống nhất, trong đó địa bàn thị xã được chia thành các khu phố để thuận tiện cho công tác quản lý và giám sát của chính quyền cơ sở.
- Việc phân chia khu phố đảm bảo tính liên kết về địa lý, dân cư và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia vào các hoạt động tự quản và thực hiện nghĩa vụ công dân.
2. Cơ cấu tổ chức chính quyền cấp thị xã
- Hội đồng nhân dân thị xã: Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do cử tri thị xã bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Hội đồng nhân dân có thẩm quyền quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo đảm an ninh trật tự tại địa phương trong khuôn khổ pháp luật của Chính phủ trung ương.
- Ủy ban hành chính thị xã: Là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Ủy ban hành chính do Hội đồng nhân dân bầu ra, có nhiệm vụ điều hành công việc hành chính hàng ngày, thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân và chấp hành nghiêm túc các chỉ thị, mệnh lệnh từ chính quyền cấp trên.
3. Tổ chức chính quyền cấp khu phố
- Tại mỗi khu phố thuộc thị xã, thành lập Ủy ban hành chính khu phố để trực tiếp giải quyết các công việc hành chính thường nhật của người dân.
- Ủy ban hành chính khu phố đóng vai trò là cầu nối trực tiếp giữa nhân dân với chính quyền cấp thị xã, chịu trách nhiệm giữ gìn trật tự an ninh, tuyên truyền và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước tại địa bàn dân cư.
4. Nguyên tắc hoạt động của chính quyền nhân dân đô thị
- Hoạt động của chính quyền các thị xã lớn tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi quyết định quan trọng của địa phương phải được thảo luận dân chủ và quyết định theo đa số tại Hội đồng nhân dân.
- Ủy ban hành chính các cấp chịu sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân cùng cấp và sự chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt từ cơ quan hành chính cấp trên nhằm đảm bảo tính thống nhất của nền hành chính quốc gia.
Hiệu lực thi hành
Sắc lệnh số 11 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây của các cơ quan, thể chế cũ hoặc các văn bản có nội dung trái với Sắc lệnh này đều bị bãi bỏ. Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Sắc lệnh này.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 11 NGÀY 24 THÁNG 1 NĂM 1946
Chiểu theo lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả hiệp,
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
- 1 Thông tư 634-TTg năm 1957 về việc tổ chức chính quyền thành phố do Phủ Thủ Tướng ban hành
- 2 Sắc lệnh số 135-SL về ấn định khoản phụ cấp tiếp tân cho các ông chủ tịch ban Thường trực Quốc hội, Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban hành chính các cấp do Chính Phủ ban hành.
- 3 Sắc lệnh số 68 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành, để sửa đổi Điều thứ 43 và 45 Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố
- 4 Sắc lệnh số 76 về việc tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố do Chủ tịch nước ban hành, để sửa đổi Điều thứ 2 Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố
- 5 Sắc lệnh số 66/SL về việc đặc cách cử ông Phạm Văn Thân làm Phó Chủ tịch huyện Nga sơn (Thanh hoá) do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 6 Sắc lệnh số 120/SL về việc hợp nhất các khu thành liên khu do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 7 Sắc lệnh số 35/SL về việc cho ông Nguyễn Ngọc Đàm từ chức Chủ tịch UBKC Hồng Quảng và chỉ định các ông vào Ủy ban hành chính khu Hồng Quảng do Chủ tịch nước ban hành
- 8 Sắc lệnh số 41/SL về việc chỉ định ông Trần Cung làm Phó Chủ tịch UBHC khu Tả ngạn do Chủ tịch nước ban hành
- 1 Thông tư 634-TTg năm 1957 về việc tổ chức chính quyền thành phố do Phủ Thủ Tướng ban hành
- 2 Sắc lệnh số 135-SL về ấn định khoản phụ cấp tiếp tân cho các ông chủ tịch ban Thường trực Quốc hội, Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban hành chính các cấp do Chính Phủ ban hành.
- 3 Sắc lệnh số 77 về việc tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành
- 4 Sắc lệnh số 68 về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành, để sửa đổi Điều thứ 43 và 45 Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố
- 5 Sắc lệnh số 76 về việc tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố do Chủ tịch nước ban hành, để sửa đổi Điều thứ 2 Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố
- 6 Sắc lệnh số 66/SL về việc đặc cách cử ông Phạm Văn Thân làm Phó Chủ tịch huyện Nga sơn (Thanh hoá) do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 7 Sắc lệnh số 120/SL về việc hợp nhất các khu thành liên khu do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 8 Sắc lệnh số 35/SL về việc cho ông Nguyễn Ngọc Đàm từ chức Chủ tịch UBKC Hồng Quảng và chỉ định các ông vào Ủy ban hành chính khu Hồng Quảng do Chủ tịch nước ban hành
- 9 Sắc lệnh số 41/SL về việc chỉ định ông Trần Cung làm Phó Chủ tịch UBHC khu Tả ngạn do Chủ tịch nước ban hành