Sắc lệnh số 133-SL là một văn bản pháp lý quan trọng được ban hành trong giai đoạn đầu của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn và lạm phát sau Cách mạng Tháng Tám, Sắc lệnh này được ban hành nhằm mục đích ổn định đời sống cho đội ngũ công chức, viên chức thông qua hai chính sách cốt lõi: cấp khoản phụ cấp bổ túc gạo đắt và ấn định mức lương tối thiểu thống nhất.
Chính sách cấp phụ cấp bổ túc gạo đắt cho công chức
Để hỗ trợ công chức trước tình trạng giá cả sinh hoạt biến động, đặc biệt là giá lương thực, Sắc lệnh quy định việc cấp phụ cấp bổ túc gạo đắt với các nội dung chi tiết sau:
- Đối tượng thụ hưởng rộng rãi: Áp dụng cho tất cả các hạng công chức bao gồm ngạch Âu cũ, ngạch bản xứ tương đương, ngạch trên, ngạch giữa, ngạch dưới, công chức công nhật, công chức làm việc theo hợp đồng, khoán tháng, làm tạm thời và cả lực lượng công an viên.
- Cơ sở tính phụ cấp: Phụ cấp được tính dựa trên giá trị của một tạ gạo tẻ hạng trung bình bán trên thị trường tự do vào ngày 15 hàng tháng. Giá gạo này phải được Ủy ban hành chính tỉnh hoặc thành phố ra nghị quyết hoặc nghị định công nhận chính thức. Riêng đối với tháng 7 năm 1946, giá gạo được chốt vào ngày 31 của tháng.
- Định mức tiêu thụ quy đổi: Sắc lệnh quy định mức tiêu thụ gạo tiêu chuẩn của mỗi người là 15 cân (kg) một tháng để làm căn cứ tính toán số tiền phụ cấp thực tế.
- Giới hạn mức hưởng: Khoản phụ cấp bổ túc gạo đắt chỉ áp dụng tối đa cho công chức có đến 4 con. Mức phụ cấp tối đa mà một công chức có thể nhận được giới hạn ở mức 200,00 đồng một tháng.
Phân loại mức phụ cấp theo tình trạng gia đình và giá gạo
Mức phụ cấp cụ thể được điều chỉnh linh hoạt theo các khung giá gạo thị trường và hoàn cảnh gia đình của công chức:
- Khung giá gạo từ 250đ đến 350đ/tạ: Mức phụ cấp bổ túc là 100đ. Số tiền nhận được dao động từ 15đ (đối với người chưa vợ) đến 90đ (đối với người có vợ và từ 4 con trở lên).
- Khung giá gạo từ 351đ đến 400đ/tạ: Mức phụ cấp bổ túc là 150đ. Số tiền nhận được dao động từ 22đ50 đến 135đ tùy theo số lượng thành viên trong gia đình.
- Khung giá gạo từ 401đ đến 450đ/tạ: Mức phụ cấp bổ túc là 200đ. Số tiền nhận được dao động từ 30đ đến 180đ.
- Khung giá gạo từ 451đ đến 500đ/tạ: Mức phụ cấp bổ túc là 250đ. Số tiền nhận được dao động từ 37đ50 đến tối đa 200đ.
- Khung giá gạo từ 501đ trở lên/tạ: Mức phụ cấp bổ túc là 300đ. Số tiền nhận được dao động từ 45đ đến tối đa kịch trần là 200đ.
Quy định về thành viên gia đình được tính phụ cấp
Sắc lệnh phân định rõ điều kiện xác định người phụ thuộc để tính phụ cấp cho từng nhóm công chức:
- Đối với công chức chính ngạch: Gia đình được hưởng phụ cấp gồm vợ và các con hiện đang được lĩnh các khoản phụ cấp gia đình theo thể lệ hiện hành.
- Đối với công chức công nhật, hợp đồng, khoán tháng hoặc tạm thời: Gia đình gồm vợ cả chính thức và các con chính thức dưới 16 tuổi. Trường hợp con còn đi học thì được tính đến dưới 21 tuổi. Nhóm công chức này phải nộp đầy đủ giấy giá thú, giấy khai sinh và chứng chỉ học bạ (đối với con trên 16 tuổi còn đi học) cho phòng lương để làm căn cứ giải quyết.
Các quy định đặc thù trong việc chi trả phụ cấp
Sắc lệnh dự liệu nhiều trường hợp đặc thù phát sinh trong thực tế công tác của công chức để đảm bảo tính công bằng:
- Công chức ngạch cũ: Những người thuộc ngạch Âu cũ và ngạch bản xứ tương đương được hưởng khoản phụ cấp này ngoài số 3/4 lương bổng đã quy định tại Nghị định số 34/TC ngày 1 tháng 11 năm 1945 của Bộ Tài chính.
- Công chức công nhật và làm tạm thời: Khoản phụ cấp được tính theo số ngày làm việc thực tế (mỗi ngày bằng 1/30 mức phụ cấp tháng). Nếu làm việc từ 35 ngày trở lên thì được hưởng trọn vẹn phụ cấp tháng.
- Trường hợp thuyên chuyển công tác: Công chức được thuyên chuyển tạm thời và lưu trú tại một tỉnh khác quá 7 ngày sẽ được hưởng mức phụ cấp bổ túc gạo đắt của địa phương nơi đến, tính từ ngày đặt chân đến cho đến ngày rời đi.
- Trường hợp cả hai vợ chồng đều là công chức: Nếu làm việc cùng tỉnh, phụ cấp của ai do Bộ quản lý người đó chi trả; riêng phụ cấp của các con sẽ do Bộ quản lý người chồng chi trả. Nếu làm việc ở hai tỉnh khác nhau, mỗi người hưởng theo mức của tỉnh mình làm việc; con cái ở với ai thì tính phụ cấp theo tỉnh làm việc của người đó.
- Trường hợp nữ công chức lấy chồng tư nhân: Chỉ được hưởng phụ cấp gạo đắt cho các con khi các con không sống cùng một tỉnh với người chồng.
Chính sách ổn định mức lương tối thiểu của công chức
Bên cạnh khoản phụ cấp gạo đắt, Sắc lệnh số 133-SL tiến hành chuẩn hóa mức lương tối thiểu áp dụng cho tất cả các hạng công chức (chính ngạch, công nhật, hợp đồng, khoán tháng, tạm thời) theo địa bàn địa lý:
- Mức lương 150 đồng/tháng: Áp dụng đối với công chức làm việc tại địa bàn thành phố Hà Nội và thành phố Hải Phòng.
- Mức lương 130 đồng/tháng: Áp dụng đối với công chức làm việc tại tất cả các tỉnh thành khác trên cả nước.
- Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành nghị định hướng dẫn chi tiết phương pháp tính toán mức lương tối thiểu này.
Ngoại lệ áp dụng và điều khoản thi hành
Sắc lệnh cũng xác định rõ phạm vi áp dụng và trách nhiệm tổ chức thực hiện:
- Trường hợp ngoại lệ: Sắc lệnh này không áp dụng đối với công chức thuộc ngạch Hỏa xa Việt Nam (ngành đường sắt), do nhóm đối tượng này đã được áp dụng một chế độ lương bổng và phụ cấp đặc thù riêng biệt.
- Hiệu lực thi hành: Sắc lệnh chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1946.
- Trách nhiệm thi hành: Các Bộ trưởng các Bộ và Chủ tịch Ủy ban hành chính các kỳ chịu trách nhiệm triển khai và thi hành nghiêm túc các quy định tại Sắc lệnh này. Văn bản được ký thay mặt Chủ tịch Chính phủ bởi Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng.
| CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 133-SL | Hà Nội, ngày 23 tháng 07 năm 1946 |
SẮC LỆNH
VỀ VIỆC CẤP MỘT KHOẢN PHỤ CẤP BỔ TÚC GẠO ĐẮT VÀ ỔN ĐỊNH LƯƠNG TỐI THIỂU CỦA CÔNG CHỨC CÁC HẠNG
CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Chiếu chỉ những thể lệ hiện hành ấn định các ngạch và chế độ lương bổng công chức Việt Nam;
Chiếu chỉ giá sinh hoạt hiện thời;
Theo lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính và sau khi ban Thường trực Quốc hội và hội đồng Chính phủ đã thỏa hiệp.
RA SẮC LỆNH:
Điều 1. - Nay cấp cho tất cả công chức các hạng (ngạch âu cũ, ngạch bản xứ tương đương, ngạch trên, ngạch giữa, ngạch dưới, công nhật, làm có hợp đồng, làm khoán tháng, làm tạm thời kể cả công an viên) một khoản phụ cấp bổ túc gạo đắt, tính như bảng A và bảng B sau này:
| BẢNG A | BẢNG B | ||||||
| Giá gạo tẻ hạng trung bình bán trên thị trường 1 tạ | Phụ cấp bổ túc 1 tạ | Bảng kê số tiền phụ cấp hàng tháng của mỗi công chức (số gạo tiêu thụ của mỗi người trong một tháng là 15 cân) | |||||
| Chưa vợ | Có vợ | Có vợ và có con | |||||
| 1 con | 2 con | 3 con | 4 con trở lên | ||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 |
| Từ 250 đến 350 đ………. | 100đ | 15đ00 (a) | 30đ | 45đ00 | 60đ | 75đ00 | 90đ |
| Từ 351 đến 400 đ………. | 150đ | 22đ50 (b) | 45đ | 67đ50 | 90đ | 112đ50 | 135đ |
| Từ 401 đến 450 đ………. | 200đ | 30đ00 (c) | 60đ | 90đ00 | 120đ | 150đ00 | 180đ |
| Từ 451 đến 500 đ………. | 250đ | 37đ50 (d) | 75đ | 112đ50 | 150đ | 187đ50 | 200đ |
| Từ 501 trở lên………….. | 300đ | 45đ00 (e) | 90đ | 135đ00 | 180đ | 200đ00 | 200đ |
(a) 100đ X 15 cân = 15đ (b) 150đ X 15 c = 22đ50
100 100
(d) 250đ X 15 c = 37đ50 (e) 300đ X 15 c = 45đ
100 100
Điều 2. - Phụ cấp bổ túc gạo đắt chỉ giá cho công chức đến 4 con là cùng.
Số tối đa phụ cấp này là 200đ00 một tháng.
Điều 3. – Để tính phụ cấp bổ túc gạo đắt sẽ lấy giá trị một tạ gạo tẻ hạng trung bình bán trên thị trường vào ngày 15 mỗi tháng, do Ủy ban hành chính tỉnh hay thành phố ra nghị quyết hay nghị định công nhận.
Riêng về tháng 7 dương lịch 1946, phụ cấp bổ túc gạo đắt sẽ tính theo giá một tạ gạo tẻ hạng trung bình bán trên thị trường ngày 31.
Các cơ quan làm lương sẽ căn cứ vào giấy ấy mà tính phụ cấp theo bảng A trên này.
Bảng B kê rõ số tiền phụ cấp của mỗi công chức này theo tình trạng gia đình.
Điều 4. – Gia đình công chức được hưởng phụ cấp này gồm có:
a) Công chức chính ngạch = vợ và con hiện được lĩnh các thứ phụ cấp có tính cách gia đình theo thể lệ hiện hành.
b) công chức công nhật, làm có hợp đồng, làm khoán tháng hay tạm thời;
- vợ cả chính thức
- các con chính thức dưới 16 tuổi hay nếu con đi học, dưới 21 tuổi.
Công chức hạng b này phải nộp cho phòng lương các giấy giá thú, khai sinh, và giấy chứng chỉ học bạ cho những đứa con trên 16 tuổi còn đi học.
Điều 5. - Những công chức ngạch âu cũ và ngạch bản xứ tương đương được hưởng phụ cấp bổ túc gạo đắt ngoài số ¾ lương bổng nói trong nghị định 34/TC ngày 1 tháng 11 năm 1945 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Điều 6. - Những công chức công nhật hay làm tạm thời lĩnh phụ cấp bổ túc gạo đắt theo số ngày làm việc, mỗi ngày là 1/30 phụ cấp. Làm việc được 35 ngày trở đi, được hưởng hoàn toàn phụ cấp hàng tháng ghi ở bản b trên này.
Điều 7. - Những công chức thuyên chuyển tạm thời, phải lưu lại một tỉnh quá 7 ngày, sẽ hưởng phụ cấp bổ túc gạo đắt của tỉnh kể từ ngày mới đến cho tới ngày rời tỉnh này đi nơi khác.
Điều 8. - Nếu hai vợ chồng cùng là công chức tòng sự cùng một tỉnh, phụ cấp bổ túc gạo đắt của người nào sẽ do bộ dùng người ấy trả. Nếu là gia đình có con, phụ cấp của các con sẽ do bộ dùng người chồng trả.
Nếu hai vợ chồng công chức tòng sự tại 2 tỉnh khách nhau, người làm việc ở tỉnh nào, lĩnh phụ cấp bổ túc gạo đắt của tỉnh ấy. Nếu là gia đình có nhiều con, con nào cũng ở với bố, lĩnh phụ cấp theo tỉnh làm việc của người bố, con nào cũng ở với mẹ, lĩnh phụ cấp theo tỉnh làm việc của người mẹ.
Điều 9. - Những đàn bà công chức lấy chồng là tư nhân, nếu có con, chỉ khi nào các con không ở cùng một tỉnh với người chồng, mới được hưởng phụ cấp bổ túc gạo đắt cho các con.
Điều 10. – Lương tối thiểu của công chức các hạng (chính ngạch, công nhật, làm có hợp đồng, làm khoán tháng, làm tạm thời) ấn định như sau này:
- 150đ một tháng ở Hà nội và Hải phòng
- 130đ một tháng ở các tỉnh khác
Một nghị định của Bộ trưởng bộ Tài chính, sau khi thỏa hiệp với Bộ trưởng bộ Nội vụ, sẽ ấn định rõ cách tính lương tối thiểu ấy.
Điều 11. – Sắc lệnh này không thi hành đối với những công chức thuộc ngạch Hỏa xa Việt Nam vì những công chức ngạch này hưởng một chế độ lương bổng và phụ cấp riêng.
Điều 12. - Sắc lệnh này thi hành kể từ ngày mồng 1 tháng 7 năm 1946.
Điều 13. – Các ông Bộ trưởng các Bộ và Chủ tịch Ủy ban hành chính các kỳ phụ trách thi hành sắc lệnh này.
|
| THAY MẶT CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.