Sắc lệnh số 175/SL do Chủ tịch nước ban hành quy định chi tiết về chế độ quản chế đối với các đối tượng phạm tội với cách mạng và nhân dân nhưng chưa đến mức phạt tù hoặc đã mãn hạn tù nhưng chưa thực sự hối cải. Đây là văn bản pháp lý quan trọng thiết lập cơ chế kiểm soát, giáo dục và cải tạo các đối tượng này nhằm bảo vệ an ninh trật tự và thành quả cách mạng.
Phạm vi và đối tượng áp dụng chế độ quản chế
Theo quy định, quản chế là việc sử dụng quyền lực của chính quyền và nhân dân để xử trí các phần tử có hành vi xâm phạm đến lợi ích của cách mạng và nhân dân. Đối tượng bị áp dụng biện pháp quản chế bao gồm:
- Địa chủ và cường hào phạm tội ở mức độ nhẹ.
- Các đối tượng từng làm gián điệp, tham gia vào các đảng phái phản động, hoặc làm tay sai cho địch có tội nhẹ nhưng đến nay vẫn chưa thực sự hối cải.
- Các phần tử lưu manh trước đây chuyên sinh sống bằng nghề trộm cắp.
- Những người đã chấp hành xong hình phạt tù (mãn hạn tù) nhưng chưa thực sự hối cải, sửa đổi tính nết.
Mục đích và phương châm của biện pháp quản chế
Biện pháp quản chế được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu cốt lõi sau:
- Ngăn ngừa triệt để các phần tử thuộc diện quản chế tiến hành các hoạt động trái phép, gây hại cho xã hội và cách mạng.
- Cải tạo, giáo dục các đối tượng này trở thành những công dân tốt, có ích cho xã hội.
- Phương châm thực hiện là kết hợp chặt chẽ giữa sự kiểm soát của cơ quan chính quyền với sự giám sát của quần chúng nhân dân; đồng thời kết hợp giữa giáo dục tư tưởng với việc bắt buộc lao động để tự sinh sống.
Kỷ luật và các nghĩa vụ bắt buộc đối với người bị quản chế
Trong thời gian chấp hành quyết định quản chế, người bị quản chế phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định kỷ luật sau:
- Phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật của Chính phủ và các quy ước chung của nhân dân tại địa phương nơi cư trú.
- Bắt buộc phải lao động để tự nuôi sống bản thân, thông qua lao động để cải tạo tư tưởng và hành vi.
- Bị hạn chế quyền tự do đi lại: Chỉ được phép đi lại và hoạt động trong phạm vi xã mình cư trú. Trường hợp muốn đi ra khỏi phạm vi xã phải được sự đồng ý và cấp phép của công an xã; đối với các trường hợp đặc biệt phải có sự cho phép của công an cấp huyện hoặc cấp tỉnh.
- Không được hành nghề hoặc làm những công việc mà bản thân có thể lợi dụng để tiếp tục thực hiện các hoạt động trái phép.
- Phải trình diện định kỳ trước công an xã để báo cáo về tình hình sinh hoạt, lao động và tiến trình sửa chữa khuyết điểm của bản thân. Đồng thời, phải có mặt ngay lập tức khi có lệnh triệu tập của chính quyền.
- Có trách nhiệm báo cáo ngay cho chính quyền nếu phát hiện bất kỳ cá nhân nào có âm mưu hoặc hành động trái pháp luật.
- Người bị quản chế sẽ bị tước mất quyền công dân trong suốt thời gian chấp hành hình phạt quản chế.
Thời hạn quản chế và cơ chế tăng, giảm thời hạn
Thời hạn áp dụng biện pháp quản chế được quy định cụ thể như sau:
- Thời hạn quản chế cơ bản dao động từ 1 năm đến 3 năm.
- Cơ chế khuyến khích: Nếu người bị quản chế có thái độ tích cực học tập, lao động và thực sự sửa chữa lỗi lầm thì thời hạn quản chế có thể được xem xét giảm bớt.
- Cơ chế răn đe: Nếu người bị quản chế không chịu sửa chữa, cố tình vi phạm thì thời hạn quản chế có thể bị kéo dài thêm từ 6 tháng đến 3 năm.
- Trường hợp người bị quản chế phạm tội mới trong thời gian chấp hành quản chế thì sẽ bị truy tố và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật đối với tội danh mới đó.
Thẩm quyền quyết định và tổ chức thi hành quản chế
Việc quyết định áp dụng, thay đổi thời hạn và tổ chức thi hành quản chế được phân định rõ ràng giữa các cơ quan:
- Cơ quan có thẩm quyền ra lệnh phạt quản chế bao gồm: Tòa án nhân dân (thường) cấp tỉnh hoặc cấp khu; Tòa án nhân dân đặc biệt; và Ủy ban kháng chiến hành chính cấp tỉnh. Sau khi ra quyết định, các cơ quan này phải báo cáo lên Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu.
- Thẩm quyền quyết định việc tăng hoặc giảm thời hạn quản chế thuộc về Ủy ban kháng chiến hành chính cấp tỉnh, đồng thời phải báo cáo lên Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu.
- Cơ quan chịu trách nhiệm thi hành: Lực lượng công an các cấp trực tiếp thi hành lệnh quản chế dưới sự lãnh đạo và kiểm soát sát sao của Ủy ban kháng chiến hành chính cấp tương đương.
Vai trò và trách nhiệm của quần chúng nhân dân
Sắc lệnh đề cao vai trò của nhân dân xã trong việc quản lý và giáo dục đối tượng quản chế:
- Nhân dân tại địa phương có trách nhiệm nhận xét, bình nghị để xác định những đối tượng đáng bị quản chế cũng như đề xuất thời hạn quản chế phù hợp, làm cơ sở để Ủy ban kháng chiến hành chính xã báo cáo lên Ủy ban kháng chiến hành chính cấp tỉnh xem xét quyết định.
- Nhân dân có trách nhiệm trực tiếp theo dõi, giáo dục, động viên và giúp đỡ người bị quản chế trong quá trình lao động, sinh hoạt để họ sớm tiến bộ và hòa nhập cộng đồng.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Sắc lệnh quy định rõ trách nhiệm triển khai thực hiện thuộc về các cơ quan và cá nhân sau:
- Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm ban hành nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành Sắc lệnh này.
- Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Thứ trưởng Thứ Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành toàn diện các nội dung được quy định tại Sắc lệnh.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 175-SL NGÀY 18 THÁNG 8 NĂM 1953
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Chiểu sắc lệnh số 133-SL ngày 20 tháng 1 năm 1953 trừng trị Việt gian phản động;
Căn cứ sắc lệnh số 150-SL ngày 12 tháng 4 năm 1953 thành lập Toà án nhân dân đặc biệt;
Căn cứ vào sắc lệnh số 151-SL ngày 12 tháng 4 năm 1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật;
Theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ;
Sau khi Ban Thường trực Quốc hội thoả thuận,
RA SẮC LỆNH :
MỤC ĐÍCH QUẢN CHẾ
Điều 1
Quản chế là dùng quyền lực của chính quyền và của nhân dân để xử trí những phần tử đã phạm tội với cách mạng, với nhân dân những tội chưa đáng phạt tù, hoặc đã mãn hạn tù nhưng chưa thực sự hối cải.
Điều 2
Quản chế nhằm mục đích:
- Ngăn ngừa những phần tử nói trên hoạt động trái phép;
- Đồng thời cải tạo chúng thành những người tốt.
Điều 3
Phương châm quản chế là:
- Kết hợp kiểm soát của chính quyền với kiểm soát của nhân dân;
- Kết hợp giáo dục với bắt buộc lao động để sinh sống.
NHỮNG HẠNG NGƯỜI CẦN PHẢI QUẢN CHẾ
Điều 4
Căn cứ vào điều 1, những hạng người dưới đây sẽ bị quản chế:
- Địa chủ, cường hào có tội nhẹ;
- Bọn đã làm gián điệp, bọn đã tham gia đảng phái phản động, nói chung bọn đã làm tay sai cho địch nhưng tội nhẹ mà nay chưa thực sự hối cải;
- Bọn lưu manh trước kia đã chuyên sinh sống bằng trộm cắp;
- Kẻ đã mãn hạn tù nhưng chưa thực sự hối cải.
KỶ LUẬT QUẢN CHẾ
Điều 5
Những kẻ bị quản chế:
a) Phải tuân theo pháp luật của Chính phủ và quy ước của nhân dân trong xã;
b) Bắt buộc phải lao động mà sinh sống, để được cải tạo thành người tốt;
c) Chỉ được đi lại trong xã mình ở. Muốn đi ra ngoài xã thì phải được công an xã cho phép ; đối với những trường hợp đặc biệt thì phải được công an cấp trên (huyện hay tỉnh) cho phép;
d) Không được làm những nghề nghiệp mà chúng có thể lợi dụng để tiếp tục hoạt động trái phép;
e) Đúng kỳ hạn phải đến trình diện với công an xã để báo cáo về sinh hoạt và sự cố gắng sửa chữa của mình.
Bất cứ lúc nào chính quyền gọi thì phải đến ngay;
g) Nếu biết kẻ nào có những âm mưu và hành động trái phép thì phải báo cáo ngay với chính quyền.
Điều 6
Kẻ bị quản chế bị mất quyền công dân trong thời gian quản chế.
THỜI HẠN QUẢN CHẾ
Điều 7
Thời hạn quản chế định từ một năm đến ba năm.
Nếu kẻ bị quản chế tích cực sửa chữa, thời hạn quản chế có thể được giảm.
Nếu kẻ bị quản chế không chịu sửa chữa, thời hạn quản chế có thể tăng thêm từ 6 tháng đến 3 năm.
Nếu kẻ bị quản chế phạm tội khác, thì sẽ bị truy tố và trừng phạt về tội đó.
CƠ QUAN CÓ QUYỀN QUYẾT ĐỊNH QUẢN CHẾ
Điều 8
Lệnh phạt quản chế do các cơ quan sau đây quyết định vào báo cáo lên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu:
- Toà án nhân dân (thường) tỉnh, khu;
- Toà án nhân dân đặc biệt;
- và Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh.
Việc tăng hoặc giảm thời hạn quản chế do Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định và báo cáo lên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu.
CƠ QUAN THI HÀNH VIỆC QUẢN CHẾ
Điều 9
Công an các cấp chịu trách nhiệm thi hành lệnh quản chế dưới sự lãnh đạo và sự kiểm soát trực tiếp của Uỷ ban kháng chiến hành chính cấp tương đương.
NHIỆM VỤ CỦA NHÂN DÂN TRONG VIỆC QUẢN CHẾ
Điều 10
Nhân dân xã có trách nhiệm quan trọng trong việc quản chế.
Nhân dân xã nhận xét, bình nghị những kẻ nào đáng bị quản chế, thời hạn quản chế, để đề nghị Uỷ ban kháng chiến hành chính xã báo cáo lên Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định.
Nhân dân có trách nhiệm theo dõi, giáo dục và giúp đỡ kẻ bị quản chế sửa chữa.
Điều 11
Một nghị định của Thủ tướng Chính phủ sẽ quy định chi tiết thi hành sắc lệnh này.
Điều 12
Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Thứ trưởng Thứ Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành sắc lệnh này.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |
- 1 Sắc lệnh số 133/SL về việc trừng trị các loại Việt gian phản động do Chủ tịch nước ban hành
- 2 Sắc lệnh số 150/SL về việc thành lập Toà án nhân dân Đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất do Chủ tịch nước ban hành
- 3 Sắc lệnh số 151/SL về việc trừng trị địa chủ chống pháp luật trong khi và ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 1 Sắc lệnh số 133/SL về việc trừng trị các loại Việt gian phản động do Chủ tịch nước ban hành
- 2 Sắc lệnh số 150/SL về việc thành lập Toà án nhân dân Đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất do Chủ tịch nước ban hành
- 3 Sắc lệnh số 151/SL về việc trừng trị địa chủ chống pháp luật trong khi và ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành