Sắc lệnh số 185/SL được ban hành bởi Quyền Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 11 tháng 9 năm 1946, nhằm mục đích ấn định rõ ràng thẩm quyền xét xử của các tòa án sơ cấp và tòa án đệ nhị cấp. Đây là một văn bản pháp lý quan trọng trong giai đoạn đầu xây dựng nền tư pháp độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giúp phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp tòa án nhằm bảo đảm tính hiệu quả và thống nhất trong hoạt động xét xử.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Sắc lệnh
Sắc lệnh áp dụng đối với toàn bộ hệ thống tòa án sơ cấp và tòa án đệ nhị cấp trên phạm vi cả nước, các thẩm phán, công tố viên, nhân viên tư pháp, cũng như các cá nhân, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng dân sự, thương sự và hình sự.
Thẩm quyền của Tòa án sơ cấp
- Về hộ sự và thương sự: Tòa án sơ cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ tranh chấp dân sự, thương mại có giá trị nhỏ hoặc các vụ việc đơn giản theo quy định của pháp luật. Đối với các vụ việc này, tòa án tập trung vào việc hòa giải và giải quyết nhanh chóng để bảo vệ quyền lợi của người dân ở cấp cơ sở.
- Về hình sự: Tòa án sơ cấp có thẩm quyền xét xử các tội vi cảnh (các vi phạm hành chính, trật tự công cộng ở mức độ nhẹ) và một số tội tiểu hình đơn giản. Hình phạt áp dụng thường là phạt tiền hoặc phạt giam giữ trong thời gian ngắn.
Thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp
- Về hộ sự và thương sự: Tòa án đệ nhị cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự, thương mại có quy mô lớn, tính chất phức tạp vượt quá thẩm quyền của Tòa án sơ cấp. Đồng thời, cơ quan này đóng vai trò là tòa phúc thẩm để xét xử lại các bản án, quyết định dân sự, thương sự của Tòa án sơ cấp bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
- Về hình sự: Tòa án đệ nhị cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án tiểu hình nghiêm trọng và các vụ án đại hình (các tội phạm nguy hiểm cho xã hội). Ngoài ra, tòa án cấp này cũng thực hiện chức năng phúc thẩm đối với các bản án hình sự sơ cấp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
Nguyên tắc phân định thẩm quyền và tổ chức xét xử
- Phân định rõ ràng theo cấp xét xử: Sắc lệnh thiết lập ranh giới pháp lý cụ thể giữa hai cấp tòa án, tránh tình trạng chồng chéo thẩm quyền hoặc đùn đẩy trách nhiệm giải quyết vụ án.
- Bảo đảm quyền kháng cáo của công dân: Việc quy định rõ thẩm quyền phúc thẩm của Tòa án đệ nhị cấp đối với các phán quyết của Tòa án sơ cấp giúp bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự, tạo cơ hội sửa chữa các sai sót (nếu có) ở cấp xét xử đầu tiên.
- Tạo tiền đề cải cách tư pháp: Các quy định từ Điều 1 đến Điều 4 đặt nền móng cho việc tổ chức hệ thống tòa án hai cấp, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước trong thời kỳ kháng chiến và kiến quốc.
Hiệu lực thi hành
Sắc lệnh số 185/SL có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây của chính quyền cũ hoặc các văn bản pháp luật khác có nội dung trái với Sắc lệnh này đều bị bãi bỏ.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 185-SLNGÀY 26 THÁNG 5 NĂM 1948
CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Chiểu Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946 tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán;
Chiểu Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946 ấn định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án;
Chiểu Thông lệnh tổ chức chính quyền và Thông lệnh tổ chức tư pháp trong tình thế đặc biệt;
Chiểu đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
Xét sự cần thiết hiện thời;
Sau khi Hội đồng Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội đã thoả thuận;
RA SẮC LỆNH:
Điều thứ 1
Tạm thời trong thời kỳ chiến tranh, thẩm quyền các Toà án sơ cấp và đệ nhị ấn định như sau:
TIẾT THỨ NHẤT: THẨM QUYỀN TOÀ ÁN SƠ CẤP.
Điều thứ 2
Về hình sự, các Toà án sơ cấp có quyền xử:
A- CHUNG THẨM:
1- Những án vi cảnh phạt bạc từ 5 đồng đến 30 đồng;
2- Những việc đòi bồi thường từ 300 đồng dở xuống, do nguyên cáo bị thiệt hại trong một vụ vi cảnh thỉnh cầu trong đơn khiếu hay chậm nhất lúc việc vi cảnh đem ra phiên toà xử.
B- SƠ THẨM:
1- Những án vi cảnh phạt giam từ 1 đến 5 ngày;
2- Những việc đòi bồi thường quá 300 đồng mà nguyên đơn thỉnh cầu trong đơn khiếu hay ở phiên toà.
Điều thứ 3
Về dân sự và thường sự, Toà án sơ cấp có quyền xử:
A- CHUNG THÂN:
1- Những việc kiện về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định không quá 300 đồng;
2- Những việc kiện về các khoản lệ phí đã phát định ra trước Toà án ấy, không cứ giá ngạch nào.
B- SƠ THẨM:
1- Những việc kiện về động sản mà giá ngạch so nguyên đơn định trên 300 đồng nhưng không quá 1500 đồng.
2- Những việc liên can đến hộ tịch (việc xin khai sinh, tử, giá thú quá hạn, xin sửa chữa giấy khai sinh, tử, giá thú, v.v....)
TIẾT THỨ NHÌ: TRƯỜNG HỢP TOÀ ÁN SƠ CẤP MẤT LIÊN LẠC VỚI TOÀ ÁN ĐỆ NHỊ CẤP.
Điều thứ tư
Nếu vì tình thế chiến tranh, việc giao thông gián đoạn, mà một Toà sơ cấp bị mất liên lạc với Toà đệ nhị cấp, thì Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Huyện và Thẩm phán sơ cấp sẽ ra quyết định nhận định tình thế ấy và báo cáo ngay lên Tỉnh để Uỷ ban Kháng chiến Tỉnh và Biện lý Toà án đệ nhị chuẩn y.
Điều thứ 5
Trong trường hợp mất liên lạc có quyết định nhận định, như nói ở Điều thứ 4, thì Toà án sơ cấp có thẩm quyền đặc biệt sau đây:
Điều thứ 6
Về phương diện tư pháp công an, thẩm phán sơ cấp có quyền, sau khi hỏi ý kiến Chủ tịch UBKC huyện, quyết định giam cứu bị can đến 45 ngày nếu là việc tiểu hình, hoặc đến 4 tháng nếu là việc đại hình. Hạn giam cứu ấy không thể gia thêm được. Khi hết hạn, tự nhiên bị can phải được tha ngay.
Nếu Toà sơ cấp lại liên lạc được với Toà đệ nhị cấp, thì Thẩm phán sơ cấp phải báo cáo ngay lên ông Biện lý để ông này quyết định về việc giam cứu.
Điều thứ 7
Các án xử sơ thẩm của Toà án sơ cấp về hình sự (án phạt giam, án xử các việc đòi bồi thường trên 300 đồng) sẽ tạm thi hành mặc dầu có sự kháng cáo của bị can hay của dân sự nguyên cáo.
Điều thứ 8
Về dân sự, Thẩm phán sơ cấp có quyền ra mệnh lệnh quyết định các phương pháp bảo thủ khẩn cấp, không có giới hạn nào.
Điều thứ 9
Khi Toà sơ cấp lại liên lạc được với Toà đệ nhị cấp, thì Chủ tịch UBKC huyện và Thẩm phán sơ cấp ra quyết nghị nhận định tình thế ấy.
Khi ấy, thẩm quyền đặc biệt của Toà án sơ cấp sẽ hết. Các việc mà Thẩm phán sơ cấp đã làm trong tình thế mất liên lạc, phải báo cáo lên Toà án đệ nhị cấp để chuẩn y. Các án sơ thẩm về hình sự sẽ không tạm thi hành nữa, trong khi chờ đợi Toà án cấp trên xét xử việc kháng cáo.
TIẾT THỨ BA: THẨM QUYỂN TOÀ ÁN ĐỆ NHỊ CẤP.
Điều thứ 10
Về Hình sự, Toà án đệ nhị cấp có quyền xử;
A- CHUNG THẨM:
1- Những án vi cảnh của Toà án sơ cấp bị kháng cáo;
2- Những án xử bồi thường của Toà án sơ cấp bị kháng cáo.
B- SƠ THẨM:
Những việc tiểu hình hay đại hình.
Điều thứ 11
Về dân sự và thường sự toà án đệ nhị cấp có quyền xử:
A- CHUNG THẨM:
1- Những án của Toà án sơ cấp bị kháng cáo;
2- Những việc kiện về bất động sản, mà giá ngạch theo thời giá hôm khởi tố, hay theo văn tự không quá 300 đồng.
B- SƠ THẨM:
1- Những việc kiện về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định trên 1500 đồng;
2- Những việc kiện về bất động sản mà giá ngạch theo thời giá hôm khởi tố hay theo văn tự trên 300 đồng;
3- Những việc kiện không thể định được giá ngạch;
4- Những việc kiện không cứ giá ngạch nào mà phải quyết nghị về thẩm quyền.
5- Những việc kiện quan hệ đến thân nhân hay căn cước của người (trừ các việc hộ tịch) hoặc về vấn đề tê tu.
Điều thứ 12
Các điều khoản của các Sắc lệnh trước trái với Sắc lệnh này đều bãi bỏ.
Điều thứ 13
Bộ trưởng Bộ Tư pháp chiểu Sắc lệnh thi hành.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
- 1 Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành
- 2 Sắc lệnh số 51 về việc ấn định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- 3 Luật tổ chức Toà án nhân dân 1960