Sắc lệnh số 229 về chính sách dân tộc của Chính phủ do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành (ký bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh) là một văn bản pháp lý mang tính lịch sử, đặt nền móng vững chắc cho chính sách dân tộc của Nhà nước ta, khẳng định mạnh mẽ quyền bình đẳng, tinh thần đoàn kết và tương trợ giữa tất cả các dân tộc trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Văn bản áp dụng đối với toàn thể nhân dân các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng thời quy định trách nhiệm thực thi của các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương.
Mục đích cốt lõi của chính sách dân tộc
- Tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc giữa các cộng đồng dân cư trên cả nước.
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các dân tộc thiểu số nhanh chóng tiến bộ, phát triển toàn diện về mọi mặt trong đời sống xã hội.
Nguyên tắc bình đẳng và nghiêm cấm phân biệt đối xử
- Khẳng định tất cả các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam đều hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật và được hưởng đầy đủ các quyền tự do dân chủ.
- Các dân tộc có nghĩa vụ đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của Tổ quốc.
- Nghiêm cấm tuyệt đối mọi hành vi khinh rẻ, áp bức, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
- Kiên quyết đấu tranh bài trừ tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi trong xã hội.
Quy chế thành lập và hoạt động của các khu vực tự trị
- Cho phép thực hiện việc thành lập các khu vực tự trị tại những vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tập trung và có đủ điều kiện theo quy định.
- Xác định rõ các khu vực tự trị là bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ Trung ương và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền cấp trên.
- Quy mô của khu vực tự trị được phân cấp linh hoạt tùy thuộc vào diện tích và dân số, có thể tương đương cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cấp khu.
- Chính quyền và nhân dân tại các khu vực tự trị có quyền tự quản lý các công việc nội bộ của mình, nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt đường lối, chính sách chung của quốc gia.
- Tại các vùng có nhiều dân tộc sống xen kẽ cũng như trong các khu vực tự trị, cơ cấu cơ quan chính quyền phải bảo đảm tỷ lệ đại biểu thích hợp, tương xứng với cơ cấu dân số của các dân tộc tại địa phương.
Quyền chính trị, bầu cử và ứng cử của công dân
- Bảo đảm quyền chính trị tối cao cho nhân dân các dân tộc, dù sinh sống trong hay ngoài khu vực tự trị, đều có quyền bầu cử và ứng cử khi Nhà nước tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nghĩa vụ và quyền lợi quân sự
- Đồng bào các dân tộc thiểu số tại Việt Nam có quyền và nghĩa vụ tham gia vào Quân đội nhân dân Việt Nam theo chế độ quân sự thống nhất của quốc gia.
Quyền tự do văn hóa, ngôn ngữ và tín ngưỡng
- Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do phát triển tiếng nói, chữ viết riêng của từng dân tộc.
- Bảo đảm quyền tự do giữ gìn, cải tiến các phong tục, tập quán tốt đẹp và quyền tự do tín ngưỡng của đồng bào.
- Cam kết sự hỗ trợ, giúp đỡ toàn diện từ phía Chính phủ để các dân tộc thiểu số phát triển mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.
Trách nhiệm thi hành và hiệu lực
- Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng các bộ có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn và giám sát việc thi hành nghiêm túc các điều khoản quy định tại Sắc lệnh này. Sắc lệnh có hiệu lực kể từ ngày ban hành dưới sự phê duyệt của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh.
SẮC LỆNH
CHỦ TỊCH PHỦ SỐ 229/SL NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 1955
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Chiểu theo chính sách dân tộc của Chính phủ, công bố ngày 22 tháng 6 năm 1953,
Theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp ngày 23 tháng 12 năm 1954,
Chiểu theo nghị quyết của Quốc hội trong khoá họp thứ 4 đã thông quan chính sách lập khu vực tự trị của các dân tộc ở những vùng có điều kiện,
RA SẮC LỆNH
Điều 1: Chính sách dân tộc của Chính phủ nhằm mục đích tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc và tạo điều kiện cho các dân tộc tiến bộ mau chóng về mọi mặt.
Điều 2: Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều nhất luật bình đẳng, đều hưởng mọi quyền tự do dân chủ, và đoàn kết giúp đỡ lẵn nhau, để đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ cho cả nước.
Nghiêm cấm mọi hành vi khinh rẻ, áp bức và chia rẽ dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi.
Điều 3: ở các vùng dân tộc thiểu số sống tập trung có đủ điều kiện thì thực hiện khu vực tự trị của dân tộc. Các khu vực tự trị đều là bộ phận của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ Trung ương, và chịu sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên. Tuỳ theo khu vực do to hay nhỏ mà đặt khu vực do ngang cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cấp khu.
Chính quyền và nhân dân các khu vực tự trị phải tuân theo đường lối, chính sách chung của nước Việt Nam đân chủ cộng hoà mà quản lý những việc nội bộ của mình.
Ở các vùng có nhiều dân tộc thiểu số khác nhau ở xen lẵn, cũng như ở các khu vực tự trị, cơ quan chính quyền cần có số đại biểu thích hợp với dân số các dân tộc ở địa phương.
Điều 4:
Khi có tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hoà, nhân dân các dân tộc trong và ngoài các khu vực tự trị đều có quyền bầu cử và ứng cử.
Điều 5: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, theo chế độ Quân sự thống nhất của nước nhà, được quyền tham gia quân đội nhân dân Việt Nam.
Điều 6: Các dân tộc thiểu số đều có quyền tự do phát triển tiếng nói và chữ việt của mình, có quyền tự do giữ gìn hay là cải thiện phong tục tập quán, có quyền tự do tín ngưỡng, và được Chính phủ giúp đỡ phát triển về mọi mặt chính trị kinh tế, văn hoá xã hội.
Điều 7: Thủ tướng Chính phủ, các bộ thi hành sắc lệnh này.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.