Sắc lệnh số 63/SL được ban hành bởi Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm thiết lập và tổ chức hệ thống chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp. Đây là văn bản pháp lý đặt nền móng quan trọng cho việc xây dựng bộ máy chính quyền nhân dân dân chủ, tự do và pháp quyền ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Sắc lệnh
Sắc lệnh áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam, điều chỉnh trực tiếp việc tổ chức, quyền hạn và phương thức hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan hành chính tại địa phương. Đối tượng chịu sự tác động bao gồm toàn thể công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên (có quyền bầu cử) và các cấp chính quyền từ cơ sở đến cấp kỳ.
Phân chia các cấp hành chính và nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương (Điều 1 - Điều 4)
- Phân chia đơn vị hành chính (Điều 1): Lãnh thổ nước Việt Nam được phân chia thành bốn cấp hành chính rõ rệt bao gồm cấp Kỳ (Bộ), cấp Tỉnh, cấp Huyện và cấp Xã. Sự phân chia này nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quản lý hành chính từ trung ương đến địa phương.
- Cơ cấu tổ chức chính quyền tại các cấp (Điều 2): Sắc lệnh quy định rõ cơ cấu chính quyền ở từng cấp hành chính. Cụ thể, ở cấp xã và cấp tỉnh sẽ tổ chức cả hai cơ quan là Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. Ngược lại, ở cấp huyện và cấp kỳ (bộ) sẽ không tổ chức Hội đồng nhân dân mà chỉ thành lập Ủy ban hành chính để thực hiện chức năng quản lý, điều hành.
- Nguyên tắc thành lập Hội đồng nhân dân (Điều 3): Hội đồng nhân dân cấp xã và cấp tỉnh là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương. Cơ quan này được thành lập thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín, đảm bảo quyền dân chủ trực tiếp của mọi công dân.
- Nguyên tắc thành lập Ủy ban hành chính (Điều 4): Ủy ban hành chính là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, vừa chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên, vừa chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương. Tại cấp xã và cấp tỉnh, Ủy ban hành chính do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra. Tại cấp huyện và cấp kỳ, do không có Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính sẽ do đại biểu của các Ủy ban hành chính cấp dưới bầu ra theo quy định pháp luật.
Cơ cấu tổ chức và phân định thẩm quyền theo các Chương của Sắc lệnh
- Chương thứ 1 - Những quy định chung: Xác lập mô hình chính quyền địa phương hai cấp hoàn chỉnh (xã, tỉnh) và hai cấp trung gian (huyện, kỳ). Quy định này giúp tối ưu hóa bộ máy quản lý, tránh cồng kềnh nhưng vẫn đảm bảo sự giám sát chặt chẽ của nhân dân đối với chính quyền cơ sở và cấp tỉnh.
- Chương thứ 2 - Tổ chức chính quyền cấp xã: Quy định chi tiết về thể thức bầu cử Hội đồng nhân dân xã, tiêu chuẩn cử tri và ứng cử viên, số lượng hội viên Hội đồng nhân dân xã, nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã trong việc quyết định các vấn đề ngân sách, trật tự trị an và đời sống dân sinh tại địa phương. Đồng thời, chương này cũng quy định cách thức bầu và vận hành của Ủy ban hành chính xã.
- Chương thứ 3 - Tổ chức chính quyền cấp huyện và cấp tỉnh: Quy định về cơ cấu tổ chức của chính quyền cấp tỉnh (gồm Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban hành chính tỉnh) và cấp huyện (chỉ có Ủy ban hành chính huyện). Xác định rõ mối quan hệ chỉ đạo hành chính giữa cấp tỉnh đối với cấp huyện và cấp xã, cũng như vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh đối với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn tỉnh.
- Chương thứ 4 - Tổ chức chính quyền cấp Kỳ (Bộ): Quy định về Ủy ban hành chính kỳ, cơ quan đại diện cho Chính phủ trung ương tại các kỳ (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ). Chương này làm rõ thẩm quyền của Ủy ban hành chính kỳ trong việc đôn đốc, kiểm tra hoạt động của các Ủy ban hành chính tỉnh, thực thi các sắc lệnh, nghị định của Chính phủ trung ương và bảo đảm an ninh, trật tự trên toàn kỳ.
Hiệu lực thi hành
Sắc lệnh số 63/SL có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây trái với Sắc lệnh này đều bãi bỏ. Sắc lệnh này đóng vai trò là văn bản pháp lý nền tảng, đặt cơ sở vững chắc cho việc hình thành hệ thống chính quyền địa phương của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn đầu kiến quốc.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 63/SL NGÀY 22 THÁNG 11 NĂM 1945
RA SẮC LỆNH:
Hội đồng nhân dân do dân bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân.
Uỷ ban hành chính do các Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan hành chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ.
Ở hai cấp xã và tỉnh có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính ở các cấp huyện và kỳ chỉ có Uỷ ban hành chính.
Cách tổ chức quyền hạn và cách làm việc của các cơ quan nói trên sẽ quy định theo như sắc lệnh này.
CÁCH TỔ CHỨC
TIẾT THỨ NHẤT: CÁCH TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
Một đạo nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ định rõ cách tính tính số hội viên tuỳ theo dân số.
Các binh lính, công chức có quyền bầu cử ở xã mà mình đến đóng hay làm việc, không cần phải trú ngụ quá 3 tháng.
Các công chức cũng có quyền ứng cử vào Hội đồng nhân dân hàng xã nếu đủ những điều kiện trên.
Nếu còn hơn 6 tháng nữa mới đến kỳ tổng tuyển cử thì trong hạn 10 ngày Uỷ ban tạm thời nói trên sẽ triệu tập cử tri để bầu lại Hội đồng. Hội đồng mới sẽ làm việc đến kỳ tổng tuyển cử.
Nếu còn không đầy 6 tháng nữa đã đến kỳ tổng tuyển cử thì Uỷ ban tạm thời nói trên sẽ làm việc đến kỳ tổng tuyển cử.
Uỷ viên bị cách chức sẽ mất tư cách hội viên Hội đồng nhân dân xã.
Nếu tội của uỷ viên phạm đến luật hình thì uỷ viên sẽ bị đưa ra toà án truy tố.
Điều thứ 30: Nếu một uỷ viên phạm lỗi trong khi thừa hành chức vụ thì Uỷ ban hành chính tỉnh theo lời đề nghị của Uỷ ban hành chính huyện hoặc khiển trách hoặc cách chức uỷ viên phạm lỗi. Uỷ viên bị cách chức nếu có chân trong Hội đồng nhân dân một xã trong huyện thì mất cả tư cách hội viên. Nếu lỗi của uỷ viên phạm vào luật hình thì uỷ viên sẽ bị đưa ra toà án truy tố.
Khi nào một vài uỷ viên bị cách chức hay xin từ chức thì những uỷ viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay.
Một đạo nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ định rõ cách tính tổng số hội viên các Hội đồng nhân dân tỉnh tuỳ theo dân số.
Điều thứ 39: Khi Hội đồng nhân dân tỉnh bị giải tán thì Uỷ ban hành chính kỳ chỉ định một Uỷ ban tạm thời ba người làm nhiệm vụ của một Hội đồng nhân dân và của Uỷ ban hành chính tỉnh.
Nếu còn hạn sáu tháng nữa mới đến kỳ tổng tuyển cử thì trong hạn 10 ngày Uỷ ban nói trên sẽ triệu tập cử tri để bầu lại Hội đồng. Hội đồng mới sẽ làm việc đến kỳ tổng tuyển cử.
Nếu còn không đầy sáu tháng nữa đã đến kỳ tổng tuyển cử thì Uỷ ban tạm thời nói trên sẽ làm việc đến kỳ tổng tuyển cử.
Nếu tội của uỷ viên phạm đến luật hình thì uỷ viên sẽ bị đưa ra toà án truy tố.
Khi nào một vài uỷ viên bị cách chức hay xin từ chức thì những uỷ viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay.
Không bầu riêng Chủ tịch, Phó chủ tịch và thư ký, chỉ bầu chung 5 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết.
Một người có thể vừa ở trong Hội đồng nhân dân xã mình vừa ở trong Hội đồng nhân dân tỉnh mình và vừa ở trong Nghị viện nhân dân nữa.
Các công chức nếu được bầu vào một Uỷ ban hành chính (xã, huyện, tỉnh hay kỳ) thì phải hoặc xin từ chức, hoặc từ chối không nhân vào Uỷ ban hành chính.
Các binh sĩ tại ngũ không được ứng cử vào các Uỷ ban hành chính (xã, huyện hay tỉnh hay kỳ).
QUYỀN HẠN VÀ PHÂN CÔNG
TIẾT THỨ 1: QUYỀN HẠN VÀ PHÂN CÔNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ
1- Cho thuê hoặc thuê bất động sản trong một thời hạn quá 3 năm;
2- Thay đổi tác dụng của một bất động sản của xã;
3- Đặt, sửa chữa, mở mang phố xá, đường cái hay công viên trong xã;
4- Mở hay bỏ chợ.
1- Bán, nhường, đổi bất động sản của xã;
2- Mua bất động sản, làm hay sửa chữa nhà cửa, cầu cống khi số tiền cần tiêu phải vay hoặc không dự tính trong ngân sách xã;
3- Ngân sách của xã;
4- Đóng góp bất thường hoặc vay;
5- Định thuế suất (tarif) các thứ thuế riêng mà đã được phép thu;
6- Tự quản lý hoặc dự một phần vào công cuộc kinh doanh có tính cách công ích: tiếp tế cho dân chúng, cứu tế, xã hội, v.v...
a) Lên Uỷ ban hành chính tỉnh nếu quyết nghị bị Uỷ ban hành chính huyện thủ tiêu hay không chuẩn y;
b) Lên Uỷ ban hành chính kỳ nếu quyết nghị bị Uỷ ban hành chính tỉnh thủ tiêu hay không chuẩn y.
1- Thi hành các mệnh lệnh của các cấp trên, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã và các bản án của các toà án;
2- Triệu tập Hội đồng nhân dân xã;
3- Kiểm soát các cơ quan chuyên môn cấp xã về cách thừa hành chức vụ;
4- Giải quyết các công việc vặt trong phạm vi xã;
5- Phát lệnh viên (ordonnateur) ngân sách hàng xã.
1- Hoà giải về tất cả các việc;
2- Xử các việc vi cảnh, nhưng chỉ được phạt tiền.
1- Hành chính, tư pháp;
2- Xã hội y tế, cứu tế, tài chính;
3- Kinh tế, giao thông, địa bạ;
4- Giáo dục, tuyên truyền, khánh tiết;
5- Trị an và quân vụ.
Ban thường vụ gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch và thư ký phụ trách mục "hành chính tư pháp". Còn những mục khác thì mỗi uỷ viên phụ trách một mục tuỳ theo tài năng của từng người.
1- Thi hành và kiểm soát sự thi hành mệnh lệnh của các cấp trên.
Kiểm soát các Uỷ ban hành chính xã và các Hội đồng nhân dân xã;
2- Thủ tiêu theo như điều thứ 68 những quyết nghị của các Hội đồng nhân dân xã trái với chỉ thị của các cấp trên hay trái với quyền lợi của dân xã;
3- Duyệt y hoặc đệ lên Uỷ ban hành chính tỉnh duyệt y các quyết nghị của các Hội đồng nhân dân xã theo như các Điều thứ 70 và 71;
4- Kiểm soát các cơ quan chuyên môn về cách thừa hành chức vụ;
5- Giải quyết các công việc vặt trong phạm vi huyện;
6- Điều khiển đội cảnh binh đặt ở huyện để lo việc tuần phòng và trị an. Đội cảnh binh này sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định sau.
1- Nhận những tặng vật và di sản mà người tặng có đặt điều kiện;
2- Bán, mua hoặc đổi bất động sản của tỉnh;
3- Kiện hoặc theo kiện;
4- Quy định về các công chức thuộc ngạch hàng tỉnh.
1- Ngân sách tỉnh;
2- Vay tiền;
3- Định những bách phân phụ thu cho quỹ hàng tỉnh, khi có các bách phân phụ thu ấy to hơn số cấp trên đã định;
4- Cho thầu một công vụ;
5- Định thuế suất (tarif) các thuế đặc biệt được phép thu trong phạm vi tỉnh.
1- Thi hành các mệnh lệnh của cấp trên và các quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh;
2- Kiểm soát các Uỷ ban hành chính và Hội đồng nhân dân các cấp dưới;
3- Duyệt y các quyết nghị của Hội đồng nhân dân xã theo Điều thứ 70;
4- Xử những kháng cáo của Hội đồng nhân dân xã về việc thủ tiêu hay không chuẩn y các quyết nghị của Hội đồng;
5- Triệu tập Hội đồng nhân dân tỉnh;
6- Điều khiển các viên chức thuộc ngạch hàng tỉnh;
7- Kiểm soát các cơ quan chuyên môn về cách thừa hành chức vụ;
8- Giải quyết các việc vặt trong phạm vi tỉnh;
9- Phát lệnh ngân sách tỉnh;
10- Cho phép trưng khẩn đất công đến một phạm vi sẽ định sau;
11- Ra nghị định để giữ việc trị an trong tỉnh;
12- Điều khiển đội cảnh binh để lo việc tuần phòng và trị an. Đội cảnh binh này sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định sau;
13- Ra lệnh điều động quân đôi (requérir le force armeo) đóng trong tỉnh, trong những trường hợp tối khẩn cấp để bảo vệ đất nước, nhưng phải báo lên Uỷ ban hành chính kỳ ngay.
1- Thi hành mệnh lệnh của Chính phủ;
2- Kiểm soát các Uỷ ban hành chính và Hội đồng nhân dân cấp dưới.
3- Duyệt các quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh theo điều thứ 84;
4- Xử những kháng cáo của Hội đồng nhân dân xã khi Uỷ ban hành chính tỉnh thủ tiêu hay không chuẩn y các quyết nghị của Hội đồng;
5- Điều khiển các viên chức thuộc ngạch kỳ;
6- Ra nghị định để thi hành các luật lệ theo mệnh lệnh của Chính phủ trong phạm vi kỳ;
7- Kiểm soát các cơ quan chuyên môn về cách thừa hành chức vụ;
8- Cho phép trưng khẩn đất công đến một phạm vi sẽ định sau;
9- Trị an toàn kỳ;
10- Ra lệnh điều động quân đội trong những trường hợp tối khấn cấp để bảo vệ đất nước, nhưng phải báo ngay cho Chính phủ biết.
CÁCH LÀM VIỆC
TIẾT THỨ 1: CÁCH LÀM VIỆC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ
1- Theo mệnh lệnh của Uỷ ban hành chính huyện;
2- Khi hau phần ba số hội viên đề nghị cho Uỷ ban hành chính xã. Trừ khi nào yêu cầu phục quyết 1/3 số hội viên đề nghị cùng dự (Điều thứ 18);
3- Khi Uỷ ban hành chính xã triệu tập.
1- Theo mệnh lệnh của Uỷ ban hành chính cấp kỳ;
2- Khi quá nửa tổng số hội viên đề nghị cho Uỷ ban hành chính tỉnh. Trừ khi nào yêu cầu phục quyết 1/3 số hội viên đề nghị cũng đủ (Điều thứ 48);
3- Khi Uỷ ban hành chính tỉnh triệu tập.
TỔNG LỆ
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
- 1 Sắc lệnh số 22A-SL về việc tổ chức các Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính do Chính Phủ lâm thời ban hành, để sửa đổi điều thứ 65 Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 tổ chức các Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính
- 2 Sắc lệnh số 10 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hành chính ở các xã, huyện, tỉnh và kỳ do Chủ tịch Chính phủ ban hành để sửa đổi Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hành chính ở các xã, huyện, tỉnh và kỳ
- 3 Sắc lệnh số 153/SL về việc định kỳ họp thường lệ của HĐND tỉnh là ba tháng một lần do Chủ tịch Chính phủ ban hành để sửa đổi Điều 104 Sắc lệnh số 63-SL ngày 22-11-1945
- 1 Quyết định 78-CP năm 1974 về việc thành lập Ban đại diện hành chính tiểu khu thuộc thành phố Hà Nội và Hải Phòng do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2 Thông tư 79-TC-CQTT năm 1958 về tổ chức chính quyền ở các thị xã do Bộ Nội Vụ ban hành.
- 3 Nghị định 164-NĐ năm 1945 về việc ấn định thể lệ bầu cử các hội đồng nhân dân và ủy ban hành chánh xã, huyện, tỉnh và kỳ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 4 Sắc lệnh số 25-SL về việc cải tổ UBHC tỉnh Thanh hoá do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 5 Sắc lệnh số 78/SL về việc ấn định thành phần Ủy bang kháng chiến khu và cách chỉ định các uỷ viên trong uỷ ban kháng chiến khu do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 1 Sắc lệnh số 22A-SL về việc tổ chức các Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính do Chính Phủ lâm thời ban hành, để sửa đổi điều thứ 65 Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 tổ chức các Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính
- 2 Sắc lệnh số 10 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hành chính ở các xã, huyện, tỉnh và kỳ do Chủ tịch Chính phủ ban hành để sửa đổi Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hành chính ở các xã, huyện, tỉnh và kỳ
- 3 Sắc lệnh số 153/SL về việc định kỳ họp thường lệ của HĐND tỉnh là ba tháng một lần do Chủ tịch Chính phủ ban hành để sửa đổi Điều 104 Sắc lệnh số 63-SL ngày 22-11-1945
- 1 Quyết định 78-CP năm 1974 về việc thành lập Ban đại diện hành chính tiểu khu thuộc thành phố Hà Nội và Hải Phòng do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2 Thông tư 79-TC-CQTT năm 1958 về tổ chức chính quyền ở các thị xã do Bộ Nội Vụ ban hành.
- 3 Thông tư 1264-NV/PC năm 1946 về các ủy ban hành chính có quyền kiểm soát các cơ quan chuyên môn ở cấp tương đương về cách thừa hành chức vụ do Bộ Nội vụ ban hành
- 4 Nghị định 164-NĐ năm 1945 về việc ấn định thể lệ bầu cử các hội đồng nhân dân và ủy ban hành chánh xã, huyện, tỉnh và kỳ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 5 Sắc lệnh số 25-SL về việc cải tổ UBHC tỉnh Thanh hoá do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 6 Sắc lệnh số 78/SL về việc ấn định thành phần Ủy bang kháng chiến khu và cách chỉ định các uỷ viên trong uỷ ban kháng chiến khu do Chủ tịch Chính phủ ban hành