Ngày 15 tháng 5 năm 1989, Tòa án Nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 01-TAND/TT hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, nhằm bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định pháp luật tố tụng hình sự trong hoạt động xét xử của Tòa án các cấp.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư này hướng dẫn chi tiết cho các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự các cấp và các cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng hình sự về việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, đặc biệt là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử sơ thẩm.
Nội dung cốt lõi của Thông tư 01-TAND/TT-1989
1. Quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp
- Xác định rõ thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực đối với các tội phạm ít nghiêm trọng, có mức hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
- Phân định thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu đối với các vụ án hình sự có tính chất phức tạp, nghiêm trọng hoặc có yếu tố nước ngoài.
- Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhằm tránh tình trạng đùn đẩy hoặc kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
2. Công tác chuẩn bị xét xử và thời hạn quyết định
- Quy định chặt chẽ về thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án và ra một trong các quyết định: đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ/tạm đình chỉ vụ án.
- Yêu cầu Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra kỹ lưỡng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo được tôn trọng triệt để trước khi mở phiên tòa.
- Hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn (như tạm giam, bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú) trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
3. Thành phần Hội đồng xét xử và người tiến hành tố tụng
- Quy định về cơ cấu thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, bảo đảm nguyên tắc Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết quyết định vụ án.
- Hướng dẫn thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án) khi có căn cứ cho thấy họ không thể bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án.
4. Bảo đảm quyền bào chữa và tham gia tố tụng của các đương sự
- Tòa án có trách nhiệm giao trực tiếp bản cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trong thời hạn luật định để bị cáo chủ động chuẩn bị việc bào chữa.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa (luật sư, người đại diện hợp pháp) nghiên cứu hồ sơ, gặp gỡ bị cáo đang bị tạm giam và tham gia tranh tụng dân chủ tại phiên tòa.
- Xác định rõ địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 01-TAND/TT-1989 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các hướng dẫn trong văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án các cấp thống nhất nhận thức và áp dụng đúng đắn Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, góp phần nâng cao chất lượng xét xử, tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm trong giai đoạn đầu đổi mới hệ thống tư pháp Việt Nam.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 01-TAND/TT | Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 1989 |
HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Để kịp thời thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trong khi chờ Thông tư liên ngành và ý kiến của Hội đồng Nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp thi hành ngay một số quy định sau đây:
a) Đối với các vụ án mà đến ngày 1-1-1989 đã hết hoặc sắp hết thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc thời hạn xét xử theo quy định của các điều 151, 215, 252, 267 Bộ luật tố tụng hình sự, thì các Tòa án được phép gia hạn thêm một thời gian và phải giải quyết các vụ án đó trong các thời hạn như sau:
- Các Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn 45 ngày (tức là trước ngày 16-2-1989).
- Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm trong thời hạn 3 tháng (tức là trước ngày 1-4-1989); phải xét xử phúc thẩm trong thời hạn 2 tháng (tức là trước ngày 1-3-1989) và phải xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm trong thời hạn 3 tháng (tức là trước ngày 1-4-1989).
- Các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao phải xét xử phúc thẩm trong thời hạn 3 tháng (tức là trước ngày 1-4-1989).
- Tòa án quân sự cấp cao xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm trong thời hạn 3 tháng (tức là trước ngày 1-4-1989).
b) Đối với các bị cáo trong các vụ án đã được phép gia hạn thêm nói trên mà đang bị tạm giam thì thời hạn tạm giam theo quy định tại điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự tính từ ngày Tòa án nhận hồ sơ vụ án.
Do đó:
- Đối với các vụ án mà Tòa án cấp huyện đã thụ lý trong năm 1988, nếu bị cáo đã bị tạm giam quá 75 ngày thì phải trả tự do ngay cho bị cáo hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
- Đối với các vụ án mà Tòa án cấp tỉnh trở lên thụ lý trong năm 1988, nếu bị cáo đã bị tạm giam quá 4 tháng thì nói chung cũng phải trả tự do ngay cho bị cáo hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Riêng đối với những phần tử nguy hiểm như những tên phạm tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, giết người, cướp… thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên được gia hạn tạm giam thêm cho đến ngày xét xử.
Tòa án cấp phúc thẩm khi nhận được đơn kháng cáo của bị cáo cần báo ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm biết.
Trong khi thi hành Thông tư này, nếu gặp khó khăn vướng mắc gì, các Tòa án cần báo cáo gấp về Tòa án nhân dân tối cao để hướng dẫn bổ sung.