Thông tư 02-BTC/GTBĐ được ban hành năm 1993 bởi Bộ Tài chính, hướng dẫn chi tiết về việc thu và sử dụng tiền thu lệ phí phục vụ hành khách tại các Cảng hàng không trên lãnh thổ Việt Nam nhằm bảo đảm nguồn kinh phí duy tu, bảo dưỡng và nâng cấp cơ sở hạ tầng hàng không.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với tất cả hành khách (bao gồm cả hành khách trong nước và quốc tế) sử dụng dịch vụ bay xuất phát từ các Cảng hàng không của Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị quản lý bay và các Cảng hàng không có nhiệm vụ tổ chức thu, quản lý và sử dụng nguồn thu này theo đúng quy định pháp luật.
Quy định về công tác thu lệ phí phục vụ hành khách
- Lệ phí phục vụ hành khách là khoản thu bắt buộc đối với hành khách nhằm bù đắp một phần chi phí đầu tư, nâng cấp, sửa chữa và vận hành các trang thiết bị phục vụ trực tiếp cho hành khách tại nhà ga.
- Phương thức thu lệ phí được thực hiện thông qua việc bán vé máy bay (lệ phí được cấu thành trong giá vé) hoặc thu trực tiếp tại sân bay trước khi hành khách thực hiện chuyến bay, tùy thuộc vào hướng dẫn cụ thể cho từng đối tượng bay nội địa hoặc quốc tế.
Quản lý và sử dụng tiền thu lệ phí
- Toàn bộ số tiền thu được từ lệ phí phục vụ hành khách phải được hạch toán đầy đủ, rõ ràng và mở sổ sách kế toán theo dõi riêng biệt theo chế độ kế toán hiện hành của Nhà nước.
- Nguồn tiền thu được phân bổ theo tỷ lệ quy định: Một phần được để lại cho các Cảng hàng không để chi dùng cho các hoạt động nghiệp vụ, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên nhà ga, sân bãi, trang thiết bị phục vụ hành khách; phần còn lại phải nộp vào Ngân sách Nhà nước theo đúng tỷ lệ điều tiết.
- Các đơn vị được giao nhiệm vụ thu lệ phí có trách nhiệm báo cáo quyết toán định kỳ về tình hình thu, nộp và sử dụng nguồn tiền này với cơ quan thuế và cơ quan tài chính có thẩm quyền.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý
- Cục Hàng không dân dụng Việt Nam và ban quản lý các Cảng hàng không có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra sát sao công tác thu lệ phí, bảo đảm thu đúng, thu đủ và sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả.
- Bộ Tài chính và hệ thống cơ quan thuế các cấp thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc chấp hành chế độ thu, nộp và quản lý tài chính đối với nguồn thu lệ phí này tại các đơn vị hàng không.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 02-BTC/GTBĐ có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành năm 1993. Các quy định trước đây về thu và sử dụng lệ phí sân bay trái với hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 02-BTC/GTBĐ | Hà Nội, ngày 07 tháng 1 năm 1993 |
Căn cứ Quyết định số 276-C T ngày 28-7-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc thống nhất quản lý các loại phí và lệ phí, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thu và sử dụng tiền thu lệ phí phục vụ hành khách tại các cảng hàng không của nhiệm vụ như sau:
Thu lệ phí phục vụ hành khách là khoản thu của Nhà nước tại các cảng hàng không. Các cảng hàng không có trách nhiệm thay mặt Nhà nước để thu khoản lệ phí này, và được dành một phần để chi phục vụ hành khách tại cảng, phần còn lại nộp vào ngân sách Nhà nước.
Mọi hành khách khi đi ra khỏi cửa khẩu Việt Nam bằng đường không tại các Cảng hàng không đều phải nộp lệ phí phục vụ hành khách.
Lệ phí này được miễn đối với những đối tượng sau:
+ Các nguyên thủ quốc gia và tuỳ tùng đi kèm, các đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ các nước do Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam mời.
+ Các viên chức, nhân viên của cơ quan đại diện ngoại giao (các sứ quán, lãnh sự quán) và tổ chức chương trình phát triển liên hiệp quốc UNDP.
Mức thu áp dụng 6 USD/1 hành khách.
Hành khách có thể nộp bằng ngoại tệ hoặc tiền Việt Nam theo tỉ giá do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm nộp.
Trường hợp do giá cả quốc tế và khu vực thay đổi, điều kiện phục vụ khách được nâng lên, Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng Việt Nam xem xét và đề nghị để Bộ Tài chính điều chỉnh mức thu cho phù hợp.
4. QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN THU PHÍ.
a) Sổ sách theo dõi và chứng từ thu lệ phí:
Các cảng hàng không có trách nhiệm mở sổ sách kế toán để theo dõi đầy đủ số tiền thu lệ phí sân bay phát sinh theo quy định của pháp lệnh về kế toán thống kê.
Chứng từ thu phí do Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) ban hành. Trường hợp cần chứng từ đặc thù thì Tổng cục thuế sẽ phối hợp với các Cảng hàng không để thực hiện.
Sổ kế toán và chứng từ thu phải đăng ký với các Cục thuế địa phương theo đúng quy định tại Thông tư số 48-TC/TCT ngày 28-09-1992 của Bộ Tài chính.
b) Sử dụng nguồn thu phí.
Các Cảng hàng không được giữ lại một phần tiền thu lệ phí sân bay để bù đắp các khoản chi phí thường xuyên cho số cán bộ tổ chức thu lệ phí này như: Lương cán bộ công nhân viên, Bảo hiểm xã hội, nguyên vật liệu - làm việc sửa chữa thường xuyên, thưởng và các chi phí cần thiết khác và phương tiện khác.
Các Cảng hàng không được để lại số tiền phí thu được theo tỉ lệ bình quân chung là 5% trên tổng số phí thực thu.
Cục Hàng không dân dụng Việt Nam căn cứ vào thực tế của từng Cảng hàng không để xác định cụ thể cho từng Cảng trên cơ sở bình quân chung không quá 5% nêu trên, và báo cáo về Bộ Tài chính.
Sô phí được để lại theo tỉ lệ % nêu trên được hạch toán vào doanh thu (không tính thuế doanh thu).
Riêng đối với chi không thường xuyên như: Việc mua sắm trang thiết bị cho các Cảng hàng không để nâng cao chất lượng phục vụ khách thì hàng năm các Cảng hàng không lập kế hoạch chỉ trình Bộ Tài chính và Bộ Giao thông vận tải (Cục hàng không dân dụng Việt Nam) xét duyệt để cấp phát từ ngân sách Nhà nước.
5. QUYẾT TOÁN VÀ NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
Số phí phải nộp ngân sách Nhà nước là tổng số phí đã thu được trừ (-) số phí được để ghi lại cho các Cảng để chi thường xuyên theo tỉ lệ % nêu trên.
Các Cảng hàng không có trách nhiệm lập tờ khai và nộp đầy đủ số phí phải nộp vào ngân sách Nhà nước, thời gian nộp tuỳ thuộc vào đặc điểm thu, để có thể thoả thuận với các Cục thuế địa phương như quy định tại Thông tư số 48-TC/TCT ngày 28-9-1992 của Bộ Tài chính.
Hết năm các Cảng hàng không có trách nhiệm quyết toán số phí phải thu, số đã thu được, số được để lại theo tỉ lệ % để chi, số còn phải nộp ngân sách Nhà nước với cơ quan tài chính theo quy định của Bộ Tài chính.
Cùng với việc xem xét quyết toán về mặt giá trị (tiền), định kỳ 6 tháng và hàng năm, Bộ Giao thông vận tải và Bộ Tài chính có xem xét và đánh giá kết quả sử dụng số tiền để lại này để trang bị và cải thiện phục vụ ở sân bay như thế nào, kể cả mặt hiện vật tài sản, phương tiện và các hình thức phục vụ hành khách.
Thông tư thi hành từ 1-1-1993
Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc đề nghị phản ánh về Bộ Tài chính xem xét giải quyết.
| Phạm Văn Trọng (Đã Ký) |
- 1 Quyết định 113/2000/QĐ-BTC công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Thông tư 27/1999/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các cụm cảng hàng không (doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích) do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Quyết định 121/1999/QĐ-BTC công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 1 Quyết định 113/2000/QĐ-BTC công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Thông tư 27/1999/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các cụm cảng hàng không (doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích) do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Quyết định 121/1999/QĐ-BTC công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 1 Quyết định 113/2000/QĐ-BTC công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Thông tư 27/1999/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các cụm cảng hàng không (doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích) do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Quyết định 121/1999/QĐ-BTC công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành