Thông tư 05/2016/TT-BTTTT do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành quy định chi tiết về việc quản lý và sử dụng mã số sách tiêu chuẩn quốc tế (sau đây gọi tắt là mã số ISBN) tại Việt Nam. Thông tư này hướng dẫn cụ thể về quy trình cấp, quản lý, các yêu cầu kỹ thuật, vị trí, kích thước, màu sắc và cách thức ghi mã số ISBN đối với các xuất bản phẩm.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với Cục Xuất bản, In và Phát hành cùng các nhà xuất bản hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Phạm vi điều chỉnh bao gồm toàn bộ hoạt động liên quan đến việc cấp, quản lý, sử dụng, thu hồi mã số ISBN và các yêu cầu kỹ thuật tích hợp mã vạch đối với sách in, sách điện tử, bản đồ, sách chữ nổi và các tài liệu dạng sách khác.
Trách nhiệm của cơ quan quản lý và chế độ báo cáo
- Cục Xuất bản, In và Phát hành là cơ quan quản lý mã số ISBN duy nhất tại Việt Nam, chịu trách nhiệm cấp, quản lý, thu hồi mã số, quy hoạch phân bổ nguồn mã số và thực hiện nghĩa vụ đóng phí hoạt động cho Tổ chức ISBN quốc tế.
- Các nhà xuất bản có trách nhiệm báo cáo tình hình sử dụng mã số ISBN đã được cấp, đồng thời thông báo các mã số chưa sử dụng cho Cục Xuất bản, In và Phát hành trước ngày 31 tháng 3 của năm liền sau năm được cấp.
- Nhà xuất bản bắt buộc phải ghi mã số ISBN trên tất cả các loại sách và tài liệu dạng sách, bao gồm cả bản đồ, sách điện tử và sách chữ nổi trước khi phát hành ra thị trường.
Nguyên tắc tạo lập và tích hợp cơ sở dữ liệu mã số ISBN
- Mã số ISBN được áp dụng tại Việt Nam là chuẩn ISBN-13 và bắt buộc phải tích hợp với mã vạch theo chuẩn EAN-13. Mã vạch này phải đọc được bằng các thiết bị hoặc phần mềm chuyên dụng, đồng thời có liên kết trực tiếp đến hệ thống cơ sở dữ liệu của Cục Xuất bản, In và Phát hành.
- Cơ sở dữ liệu tích hợp với mã số ISBN phải chứa đầy đủ các thông tin cốt lõi của xuất bản phẩm bao gồm: Tên nhà xuất bản, tên sách, tác giả/dịch giả, năm xuất bản, khuôn khổ, số trang, thể loại, tóm tắt nội dung, số xác nhận đăng ký xuất bản, số quyết định xuất bản, số lượng in, thông tin cơ sở in (đối với sách in) hoặc dung lượng, định dạng, website phát hành (đối với sách điện tử), tên đối tác liên kết và giá bán (nếu có).
- Nhà xuất bản tự chịu trách nhiệm tạo lập, sử dụng mã vạch tích hợp và có thể xây dựng cơ sở dữ liệu riêng để kết nối với mã ISBN dưới sự chịu trách nhiệm của Tổng giám đốc hoặc Giám đốc nhà xuất bản.
Vị trí và quy cách trình bày mã số ISBN trên xuất bản phẩm
- Đối với sách in: Mã số ISBN tích hợp mã vạch phải được in tại góc dưới bên phải của bìa 4 (hoặc bìa bọc nếu có). Phía trên mã vạch hiển thị dòng chữ “ISBN” kèm các nhóm số cách nhau bằng dấu gạch nối; phía dưới hiển thị dãy số liền nhau không có gạch nối. Ngoài ra, mã số ISBN dạng số phải được ghi tại trang bản quyền (cuối trang ghi số quyết định xuất bản).
- Đối với sách nhiều tập, sách dịch và nhiều định dạng: Trang bản quyền của mỗi tập phải ghi thêm mã ISBN của các tập khác đã xuất bản. Sách dịch phải ghi mã ISBN của sách gốc. Sách có nhiều định dạng khác nhau phải ghi thêm mã ISBN của các định dạng khác đã phát hành.
- Đối với sách điện tử và các phương tiện khác: Sách điện tử phát hành trực tuyến phải hiển thị mã ISBN tích hợp mã vạch tại giao diện đầu tiên, giao diện hiển thị tiêu đề hoặc trang bản quyền. Đối với sách lưu trữ trên CD, DVD, mã số phải được ghi trên nhãn gắn cố định vào vật thể.
Yêu cầu kỹ thuật đối với mã vạch EAN-13 tích hợp ISBN
- Kích thước: Kích thước tiêu chuẩn của mã vạch là cao 22,85mm và rộng 31,35mm. Cho phép thu nhỏ tối thiểu bằng 80% hoặc phóng to tối đa bằng 200% so với kích thước tiêu chuẩn tùy thuộc vào không gian hiển thị trên sách, nhưng phải đảm bảo máy đọc nhận diện được.
- Khoảng trống bắt buộc: Khoảng trống an toàn phía bên trái mã số tối thiểu là 3,63mm và phía bên phải tối thiểu là 2,31mm.
- Màu sắc hiển thị: Mã vạch tiêu chuẩn được in bằng màu đơn (đen, xanh thẫm hoặc nâu thẫm) trên nền sáng (trắng, vàng, cam hoặc hồng nhạt). Tuyệt đối không in mã vạch bằng các màu đỏ, vàng, da cam; không in chồng màu hoặc in dưới dạng t'ram.
Nguyên tắc cấp, sử dụng và thu hồi mã số ISBN
- Mỗi tên sách xuất bản lần đầu, sách tái bản có sửa chữa, sách xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, hoặc sách cùng nội dung nhưng phát hành dưới các định dạng khác nhau (bìa cứng, bìa mềm, sách điện tử, sách chữ nổi) đều phải được cấp một mã số ISBN riêng biệt.
- Mã số ISBN đã cấp và sử dụng tuyệt đối không được thay đổi, chuyển nhượng hoặc cấp lại cho tên sách khác hoặc nhà xuất bản khác.
- Cục Xuất bản, In và Phát hành thực hiện cấp mã số ISBN đồng thời với việc xác nhận đăng ký xuất bản cho từng tên sách.
- Trường hợp mã số ISBN đã cấp nhưng không được sử dụng theo đúng quy định, Cục Xuất bản, In và Phát hành sẽ tiến hành thu hồi thông qua việc nhà xuất bản nộp lại mã số trong báo cáo hằng năm.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 05/2016/TT-BTTTT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2016. Chánh Văn phòng, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành cùng các cơ quan, tổ chức, nhà xuất bản có liên quan chịu trách nhiệm thi hành các quy định tại Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, mọi vướng mắc phát sinh phải được phản ánh bằng văn bản gửi về Bộ Thông tin và Truyền thông để kịp thời xem xét, giải quyết.
| BỘ THÔNG TIN VÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 05/2016/TT-BTTTT | Hà Nội, ngày 01 tháng 3 năm 2016 |
QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG MÃ SỐ SÁCH TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ
Căn cứ Luật Xuất bản ngày 20 tháng 11 năm 2012;
Căn cứ Nghị định số 195/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xuất bản;
Căn cứ Nghị định số 132/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành;
Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư quy định về quản lý và sử dụng mã số sách tiêu chuẩn quốc tế.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Thông tư này quy định chi tiết và hướng dẫn việc cấp, quản lý, yêu cầu kỹ thuật, vị trí, kích thước, màu sắc, cách thức ghi mã số sách tiêu chuẩn quốc tế - International Standard Books Number (sau đây gọi tắt là mã số ISBN).
2. Thông tư này áp dụng đối với các đối tượng sau đây:
a) Cục Xuất bản, In và Phát hành;
b) Các nhà xuất bản.
Điều 2. Trách nhiệm của cơ quan quản lý mã số ISBN
1. Cục Xuất bản, In và Phát hành là cơ quan quản lý mã số ISBN tại Việt Nam có trách nhiệm cấp, quản lý và thu hồi mã số ISBN.
2. Hằng năm, Cục Xuất bản, In và Phát hành báo cáo về tình hình sử dụng mã số ISBN ở Việt Nam và đóng phí hoạt động cho tổ chức ISBN quốc tế.
3. Căn cứ tình hình sử dụng mã số ISBN của các nhà xuất bản, Cục Xuất bản, In và Phát hành có trách nhiệm quy hoạch việc phân bổ nguồn mã số ISBN, lập hồ sơ điều chỉnh, bổ sung đầu số với tổ chức ISBN quốc tế khi có nhu cầu.
Các nhà xuất bản báo cáo Cục Xuất bản, In và Phát hành về việc sử dụng mã số ISBN được cấp, thông báo mã số ISBN chưa sử dụng trước ngày 31 tháng 3 của năm liền sau năm được cấp mã số ISBN.
Điều 4. Đối tượng phải ghi mã số ISBN
Nhà xuất bản phải ghi mã số ISBN trên sách và tài liệu dạng sách, bao gồm cả bản đồ, sách điện tử, sách chữ nổi (sau đây gọi chung là sách).
Điều 5. Nguyên tắc tạo lập và sử dụng mã số ISBN
1. Mã số ISBN được tạo lập và sử dụng tại Việt Nam là ISBN-13 và phải tích hợp với mã vạch theo chuẩn EAN-13, đảm bảo các yêu cầu sau:
a) Đọc được bằng máy hoặc phần mềm đọc mã thông dụng;
b) Chứa các thông tin của sách quy định tại
c) Có liên kết đến thông tin của xuất bản phẩm trong hệ thống cơ sở dữ liệu của Cục Xuất bản, In và Phát hành;
d) Phù hợp thông lệ quốc tế và quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Nhà xuất bản phải tự tạo lập và sử dụng mã vạch tích hợp mã số ISBN.
Điều 6. Cơ sở dữ liệu tích hợp với mã số ISBN
1. Mã số ISBN tích hợp với mã vạch EAN-13 phải chứa các thông tin sau:
a) Tên nhà xuất bản;
b) Tên sách;
c) Tên tác giả, tên dịch giả (đối với sách dịch);
d) Năm xuất bản;
đ) Khuôn khổ, số trang;
e) Thể loại;
g) Tóm tắt nội dung, chủ đề, đề tài;
h) Số xác nhận đăng ký xuất bản của Cục Xuất bản, In và Phát hành;
i) Số quyết định xuất bản của nhà xuất bản;
k) Số lượng in, tên và địa chỉ cơ sở in (nếu là sách in);
l) Dung lượng (byte), định dạng, địa chỉ website đăng tải hoặc tên nhà cung cấp (nếu là sách điện tử);
m) Tên và địa chỉ đối tác liên kết (nếu có);
n) Giá bán (nếu có).
2. Ngoài các thông tin quy định tại Khoản 1 Điều này, nhà xuất bản có thể tạo lập cơ sở dữ liệu riêng để kết nối với mã ISBN khi tích hợp mã vạch. Tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản chịu trách nhiệm về nội dung của cơ sở dữ liệu này.
Điều 7. Vị trí và trình bày mã số ISBN
1. Đối với sách in:
a) Mã số ISBN tích hợp mã vạch phải in tại góc dưới bên phải bìa 4. Nếu là sách có bìa bọc thì in trên bìa bọc;
b) Phía trên mã vạch phải có dòng chữ “ISBN” và tiếp sau là các thành phần của mã số, cách nhau bởi dấu gạch nối. Phần dãy số phía dưới trùng với dãy số phía trên, nhưng không có gạch nối (như hình minh họa).

Ngoài ra, cuối trang ghi số quyết định xuất bản (sau đây gọi là “trang bản quyền”) phải ghi mã ISBN dạng số (như dãy chữ số phía trên mã vạch tại hình minh họa);
c) Trường hợp sách có nhiều tập: Cuối trang bản quyền của mỗi tập ghi thêm mã số ISBN dạng số của tất cả các tập khác (nếu đã xuất bản);
d) Trường hợp sách dịch: Cuối trang bản quyền ghi mã số ISBN dạng số của sách gốc (nếu có);
đ) Trường hợp sách được xuất bản ở nhiều định dạng khác nhau: Cuối trang bản quyền của mỗi định dạng ghi thêm mã số ISBN dạng số của tất cả các định dạng khác (nếu đã xuất bản).
2. Đối với sách điện tử:
a) Đối với sách xuất bản, phát hành trên mạng Internet hoặc trên phương tiện điện tử khác: Mã số ISBN tích hợp mã vạch phải ghi tại giao diện đầu tiên hoặc giao diện hiển thị tiêu đề hoặc giao diện trang bản quyền của sách;
b) Đối với sách dạng CD, CD-ROM, DVD, VCD: Mã số ISBN tích hợp mã vạch phải ghi trên nhãn gắn cố định vào vật thể đó.
Điều 8. Yêu cầu kỹ thuật thể hiện đối với mã vạch EAN-13 khi tích hợp với mã số ISBN
1. Kích thước:
a) Kích thước tiêu chuẩn của mã vạch có chiều cao 22,85mm, rộng 31,35mm. Nếu rút ngắn chiều cao phải đảm bảo để máy đọc mã vạch nhận biết được;
b) Trường hợp vị trí đặt mã vạch hẹp cả 2 chiều, có thể thu nhỏ nhưng tỷ lệ thu nhỏ không dưới 80% so với kích thước tiêu chuẩn;
c) Trường hợp phóng to mã vạch, phải đảm bảo tỷ lệ phóng không vượt quá 200% so với kích thước tiêu chuẩn.
2. Khoảng trống phía trái mã số ISBN tối thiểu là 3,63mm, phía phải tối thiểu là 2,31mm.
3. Màu sắc:
a) Mã vạch tiêu chuẩn được in bằng màu đen trên nền trắng. Ngoài ra, có thể in mã vạch bằng màu xanh thẫm hoặc nâu thẫm. Không in mã vạch bằng các màu vàng, da cam, đỏ. Mã vạch được in bằng màu đơn; không được in chồng màu; không in dạng “t’ram”;
b) Nền của mã vạch tiêu chuẩn là màu trắng. Ngoài ra, có thể dùng nền màu vàng, cam, hồng nhạt.
Điều 9. Nguyên tắc cấp mã số ISBN
1. Mỗi tên sách thuộc các trường hợp sau đây được cấp một mã số ISBN riêng biệt:
a) Sách xuất bản lần đầu;
b) Sách tái bản mà nội dung có sửa chữa, bổ sung;
c) Sách xuất bản với nhiều ngôn ngữ và được in riêng từng cuốn cho từng ngôn ngữ;
d) Sách cùng nội dung mà xuất bản dưới các hình thức khác nhau (sách in bìa cứng, sách in bìa mềm, sách kèm đĩa, sách điện tử, sách chữ nổi);
e) Sách cùng nội dung nhưng khác nhau về một trong những dữ liệu quy định tại
2. Mã số ISBN đã được cấp và sử dụng cho một tên sách thì không được thay đổi hoặc cấp lại cho tên sách khác.
3. Nhà xuất bản chỉ được sử dụng mã số ISBN đã được cấp trực tiếp một lần cho từng tên sách, không được cấp lại, chuyển nhượng mã số ISBN cho nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức khác.
Điều 10. Cách thức cấp mã số ISBN
Cục Xuất bản, In và Phát hành cấp mã số ISBN kèm theo xác nhận đăng ký xuất bản cho từng tên sách.
1. Cục Xuất bản, In và Phát hành thu hồi mã số ISBN đã cấp đối với trường hợp mã số ISBN không được sử dụng theo quy định.
2. Cách thức thu hồi mã số ISBN: Nhà xuất bản nộp lại mã số ISBN đã được cấp thông qua báo cáo hằng năm theo quy định tại
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2016.
2. Chánh Văn phòng, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
3. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh hoặc khó khăn, vướng mắc, đề nghị cơ quan, tổ chức phản ánh bằng văn bản về Bộ Thông tin và Truyền thông (qua Cục Xuất bản, In và Phát hành) để xem xét, giải quyết./.
|
Nơi nhận: | BỘ TRƯỞNG |
- 1 Công văn 1219/BTTTT-CXBIPH năm 2015 về rà soát, báo cáo điều kiện hoạt động của các nhà xuất bản do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 2 Thông tư 16/2015/TT-BTTTT hướng dẫn Nghị định 187/2013/NĐ-CP về xuất, nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 3 Công văn 2562/BTTTT-CXBIPH năm 2015 giải quyết nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 1 Luật xuất bản 2012
- 2 Nghị định 132/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông
- 3 Nghị định 195/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật xuất bản
- 4 Công văn 1219/BTTTT-CXBIPH năm 2015 về rà soát, báo cáo điều kiện hoạt động của các nhà xuất bản do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 5 Thông tư 16/2015/TT-BTTTT hướng dẫn Nghị định 187/2013/NĐ-CP về xuất, nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 6 Công văn 2562/BTTTT-CXBIPH năm 2015 giải quyết nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành