Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Thông tư 06-TT được ban hành năm 1945 bởi Bộ Tư pháp nhằm hướng dẫn thi hành Sắc lệnh đại xá của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một văn bản pháp lý đặt nền móng quan trọng trong giai đoạn đầu thành lập nước, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo sâu sắc của chính quyền cách mạng đối với những người phạm tội dưới chế độ cũ và trong giai đoạn chuyển tiếp lịch sử.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Thông tư này hướng dẫn việc áp dụng sắc lệnh đại xá trên phạm vi cả nước, đối với các đối tượng đang bị giam giữ, truy tố hoặc xét xử. Đối tượng áp dụng trực tiếp bao gồm các cơ quan tư pháp, tòa án quân sự, tòa án nhân dân, các ủy ban hành chính địa phương và ban quản lý các nhà giam trong việc rà soát, lập danh sách và thực hiện phóng thích phạm nhân.

Các nội dung cốt lõi của Thông tư 06-TT năm 1945

1. Nguyên tắc phân loại và xác định đối tượng được hưởng đại xá

  • Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể việc phân biệt giữa các loại tội phạm để áp dụng chính sách đại xá một cách công bằng, nhân văn và đúng pháp luật.
  • Ưu tiên xem xét đại xá đối với những phạm nhân phạm tội chính trị dưới thời thực dân phong kiến, những người tham gia hoạt động yêu nước nhưng bị khép tội phản nghịch hoặc phá hoại trật tự trị an của chế độ cũ.
  • Đối với phạm nhân phạm tội thường phạm, thông tư hướng dẫn xem xét giảm án hoặc miễn chấp hành hình phạt tù đối với những người phạm tội nhẹ, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người già yếu, phụ nữ nuôi con nhỏ hoặc những người đã tỏ rõ sự ăn năn hối cải trong quá trình giam giữ.
  • Loại trừ nghiêm ngặt khỏi diện đại xá đối với các đối tượng phạm tội phản quốc, gián điệp, những kẻ câu kết với thế lực ngoại bang gây nguy hại trực tiếp đến nền độc lập non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

2. Quy trình, thủ tục xét duyệt và lập danh sách đề nghị đại xá

  • Thông tư quy định rõ trách nhiệm của các Thẩm phán, Công tố viên và Giám đốc các nhà giam trong việc phối hợp rà soát hồ sơ của từng phạm nhân một cách chặt chẽ.
  • Các cơ quan tư pháp địa phương phải lập danh sách chi tiết kèm theo lý lịch tư pháp, hành vi phạm tội, thời gian đã chấp hành án và nhận xét về thái độ cải tạo thực tế của từng phạm nhân.
  • Danh sách đề nghị đại xá phải được gửi về Bộ Tư pháp để thẩm định trước khi trình Chủ tịch Chính phủ lâm thời ra quyết định chính thức.
  • Quy trình xét duyệt yêu cầu sự khẩn trương, chính xác, tránh để sót những người đủ điều kiện nhưng cũng không được để lọt những phần tử nguy hiểm cho xã hội và cách mạng.

3. Biện pháp thi hành phóng thích và quản lý sau đại xá

  • Sau khi có quyết định đại xá chính thức, các nhà giam phải tổ chức công bố công khai và thực hiện việc phóng thích ngay lập tức cho các phạm nhân được tha bổng.
  • Ủy ban hành chính các cấp tại địa phương có trách nhiệm tiếp nhận, tạo điều kiện cho người được đại xá trở về quê quán, tái hòa nhập cộng đồng và tìm kiếm việc làm lương thiện để ổn định cuộc sống.
  • Chính quyền địa phương phối hợp với các tổ chức quần chúng để theo dõi, giáo dục và giúp đỡ người được đại xá, ngăn ngừa nguy cơ tái phạm tội, đồng thời bảo đảm an ninh trật tự tại cơ sở.

Hiệu lực thi hành

Thông tư 06-TT năm 1945 có hiệu lực thi hành ngay kể từ ngày ban hành. Các cơ quan tư pháp, tòa án và ủy ban hành chính các cấp có trách nhiệm nghiêm túc chấp hành các hướng dẫn trong thông tư này để bảo đảm chính sách nhân đạo của Chính phủ lâm thời được thực hiện thống nhất, kịp thời và đúng pháp luật trên toàn quốc.

BỘ TƯ PHÁP
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 06-TT

Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 1945

THÔNG TƯ

VỀ SẮC LỆNH ĐẠI XÁ NGÀY 20 THÁNG 10 NĂM 1945 CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI.

Gửi các ông:

- Cố vấn và Thẩm phán các tòa Thượng và Sơ thẩm,
- Biện lý toà án Hà nội và Hải phòng,
- Chánh án toà đệ nhị cấp Bắc bộ,
- Chánh án toà Hoà giải rộng quyền,
- Các Uỷ ban nhân dân các tỉnh

Xin báo để các ngài để ý và thi hành ngay sắc lệnh số 52 ngày 20 tháng 10 năm 1945 đăng trong Việt Nam Công báo số 7, trang 78.

I. TỘI NÀO ĐƯỢC ÂN XÁ ?

Sắc lệnh này chia làm 3 hạng tội phạm rất rõ rệt,sẩy ra trước ngày 19 tháng 8 năm 1945,

HẠNG THỨ NHẤT: Tám thứ khinh tội và những tội vi cảnh nói trong điều thứ nhất.

Những khinh tội về báo chí, hội họp, đình công (đã nói trong Dụ ngày 17 tháng 5 năm 1945 và thông tư của bản chức số 4 tháng 9 năm 1945) đều phải hiểu nghĩa rộng. Bởi vậy hội họp sẽ gồm có: hội họp trong nhà trái phép, hội họp công khai (điều 136 Hoàng Việt Hình luật, điều 78 Hình luật Bắc kỳ, điều thứ nhất luật ngày 30 tháng 6 năm 1881 và những luật sửa đổi sau), hội họp kín (điều 137, 55 H.V.H.L.) hội xã không khai với nhà nước (điều 171-179 H.L.B.K.) tụ họp rước sách, biểu tình, hội họp có tính cách thương mại, nghiệp đoàn, ái hữu, tương tề, vân vân …

Tội báo chương sẽ bao quát cả những tội có tính cách báo chí và những tội nói trong luật ngày 29 tháng 7 năm 1881 như lăng mạ, nói xấu miệng, trừ tội bại hoại phong hoá (ourrage aux bonnes moeurs) (xem Dutruc: Explication de la loi sur la presse, trang 240). Những tội phạm về sự kiểm sát chung về báo chương có mục đích tuyên truyền cho Pháp và Đông dương thuộc Pháp bắt đầu thi hành từ đại chiến thế giới 1939 như kiểm duyệt báo chí, cấm phản tuyên truyền Pétain đều được xoá bỏ.

Tội phạm trong khi đình công đã nói rõ trong điều 147 H.V.H.L., 309 H.L.B.K., sắc lệnh ngày 2 tháng 4 năm 1932 và sắc lệnh ngày 11 tháng 10 năm 1937 về những sự tổng đình công, tương tranh giữa chủ và thợ có tính cách toàn thể hoặc cá nhân.

Sắc lệnh mới còn xoá hẳn mấy tôị nữa mà theo Dụ ngày 17 tháng 5 năm 1945 thì lại thuộc vào trường hợp có thể được đại xá (bỏ việc, kiểm lâm, kinh tế, vô ý giết người) hoặc không thể được đại xá (quan thuế hay thương chính).

Tội bỏ việc không trả tiền vay đã định nghĩa rõ trong sắc lệnh ngày 2 tháng 6 năm 1932 và nghị định ngày 11 tháng 11 năm 1918 về những phu làm ở đồn điền cao su trong Nam kỳ. Phải xoá cả những tội bội tín nói trong điều 408, chương 4 Hình luật sửa đổi bởi sắc lệnh ngày 31 tháng 12 năm 1912 và sắc lệnh ngày 2 tháng 6 năm 1932, vì hai phạm pháp này đều cùng một loại.

Tội kiểm lâm và tội kinh tế chỉ huy (trừ trọng tội đem ra toà đại hình theo sắc lệnh ngày 23 tháng 6 năm 1941) đều có tính cách đặc biệt, không thể lẫn với tội khác nên không cần giải thích, chỉ căn cứ vào tội danh định trong hồ sơ mà thi hành sắc lệnh là đủ.

Vô ý đánh chết người (homicide involontaire điều 319 H.L. có sắc lệnh sửa đổi và điều 195 H.L.B.K.) không được lẫn với ngộ sát (coups er blessures mortels điều 309, chương 4 H.L sửa đổi và 179 H.L.B.K.) vì một đằng là khinh và một đằng là trọng tội. Đánh người có thương tích chỉ kể thương tích thường (khinh tội: 309 chương 1, 311 H.L. sửa đổi và 189 H.L.B.K.) chứ không được bỏ những tội đại hình như: có thương tích vĩnh viễn như mang tật, mù mắt, cụt chân tay...

Luật quan thuế (D.R) cũng như luật kiểm lâm, không thể ngộ nhận với luật khác, vì có tố tụng riêng. Nhưng theo lý thuyết và án lệ thì kiểm lâm không có tính cách tô thuế (caractère fiscal) như quan thuế hay thương chính (D.R) mà có tính cách trừng phạt (caractère répressif). Cứ tờ trình trong bản sắc lệnh này thì không phải xoá hết thảy tội về luật tô thuế (lois fiscales: enregistrement, octroi, contributions indirectes) mà chỉ xoá tội về luật quan thuế hay thương chính (D & R). Vậy thì xoá bỏ những tội về rượu, muối, thuốc phiện lậu, chống cự nhà đoan và cả mang hàng lậu ra ngoại quốc hay ở ngoài đem vào, ... nói trong sắc lệnh ngày 15 tháng 10 năm 1941.

Nói tóm lại trong khi giải thích, ta cần phải xem những sự phạm pháp có cùng một bản thể (même nature de Pinfraction) với sự phạm pháp nói trong luật đại xá không (xem Dalloz R.P. Chữ Amnistie số 13). Không trái với nguyên tắc ấy những tội a tòng hay tương hành vị toại đều coi như chính tội.

HẠNG THỨ NHÌ: Ngoài 9 thứ tội nói trên, tội khác đều có thể được xoá bỏ, miễn là có án phạt tiền hoặc tù treo hoặc cả hai thứ (điều 3).

Điều kiện cần thiết là có án rồi mà phải là án đã hết phương pháp kháng tố (Cr, 7 déc, r86o D.P. 61.5.21).

Thí dụ một án sơ thẩm cho tù treo, nhưng nếu nguyên cáo hoặc chưởng lý (tố tụng Bắc kỳ) hoặc công tố viện (tố tụng Pháp) có chống án thì tòa nhượng thẩm còn phải xét lại về tình lý (au fond) mà có thể tăng lên được và nhận đầy tội nhân sẽ không được ân xá. Vậy những hồ sơ ấy cần phải đem vào sổ thụ lý ở toà, không như những tội thuộc vào hạng thứ nhất vì nếu ở vào trường hợp điều 1 sắc lệnh thì

phải đình chỉ ngay cuộc truy tố, dù là còn ở toà Dự thẩm, toà Vậng án hay toà Phá án.

(Xem Dalloz R.P. đã dẫn ở trên, số 37 và những án lệ đã nói ở sách ấy nhất là tờ thuyết trình của ông cố vấn Vételay D.P. 12.1.441).

HẠNG THỨ BA: Nếu đem phân tách ra, thì đại ân của những người được hưởng sắc lệnh thuộc về hạng này là ân thích đại xá (grâce amnistiante) chứ không phải đại xá (aministie). Bởi vậy nên tội phạm ấy (những người vì chiến đấu cho nền độc lập của nước Việt Nam, nói trong điều 2) phải có đơn xin.

Bộ Tư pháp đã đánh điện tín đi các Ủy ban nhân dân các tỉnh bảo làm danh sách những tội nhân thuộc vào trường hợp này, và những bản danh sách ấy sẽ coi như là những đơn xin đại xá và được xét một cách rất mau chóng theo thủ tục luật định. Chỉ có cơ quan hành chính mới có đủ tư cách và tài liệu để điều tra và phân biệt được những chính trị phạm nhân chân chính (dù là kết vào tội chính trị hay trường tội) với những tay sai cho ngoại quốc hoạt động có hại cho nền độc lập nước nhà mà cũng bị kết án chính trị.

II. HIỆU LỰC CỦA ĐẠI XÁ

1) Về những tội danh nói trong điều 1, đại xá sẽ đình chỉ hết sự truy tố, huỷ bỏ hết tố tụng ở các Công tố viện, các toà Dự thẩm và Vậng án. Nếu có án rồi thì sẽ soá bỏ hết vết tích, trừ trên nguyên bản những công văn lưu trữ tại phòng lục sự.

Các toà án nếu đương thẩm cứu hoặc xét xử thì phải huỷ ngay thủ tục hay tuyên ngay công tố miễn nghị, không cần xét đến nội dung hay tình lý.

2) Về những tội nói trong điều 3 và điều 2 thì sau khi cơ quan tư pháp hoặc hành chính đã xá miễn, hiệu lực cũng như trên, nghĩa là phạm pháp sẽ bị xoá, tội nhân sẽ được khôi phục công quyền và dân quyền, được bầu hoặc ứng cử, nếu phạm lỗi nữa tội ấy sẽ không kể để áp dụng luật tái phạm, nói tóm lại sẽ hết vết tích xưa.

Nếu án sơ thẩm thuộc vào điều 3 mà được toà Phúc thẩm đương xét lại thì toà này vẫn phải tiếp tục xử và nếu muốn cho hưởng luật đại xá này thì phải y án sơ thẩm rồi mới tuyên cho hưởng sắc lệnh.

Sau hết đứng về phương diện dân sự, nếu toà hình đã thụ lý rồi thì cùng một lúc tuyên cho đại xá có thể cho nguyên đơn tiền bồi thường được:

a/ theo hình sự tố tụng Bắc kỳ, thì cách giải quyết này rất dĩ nhiên, vì ở các toà Nam án, thẩm phán quan có quyền bắt tội nhân bồi thường cho nguyên đơn không cần đơn xin.

b/ theo tố tụng Pháp (C. Inst. Crim.) công tố (action publique) và tư tố (action civile) khác hẳn nhau, nhưng vẫn có án lệ rằng khi toà hình đã thụ lý rồi, thì lúc tuyên án cho hưởng đại xá, toà vẫn có quyền xét về phương diện dân sự, nguyên đơn không phải trở về toà bộ xin tiền thiệt hại.

Nói tóm lại chỉ phải xin tiền thiệt hại ở toà hộ khi toà hình chưa thụ lý lúc sắc lệnh này thi hành.

Nên để ý rằng: «Dụ Đại xá ngày 17 tháng 5 năm 1945 vẫn có giá trị đối với chính trị phạm và thường phạm nói trong ấy và đã được đại xá rồi.

Bản chức xin các ngài phóng thích ngay những tội nhân đương tại ngục, mà theo sắc lệnh này được đại xá.

Quý toà gửi ngay cho bản chức:

1) Một bản thống kê những tội nhân đã phóng thích (détenus élarigis);

2) Một bản thống kê những phạm nhân (prévenus) hiện bị giam hay không mà theo luật mới được tha ngay; kẻ bị giam phải phóng thích ngay;

3) Một biên bản huỷ bỏ những tờ tư pháp lý lịch số 1

Tự nhiên là những án từ có những phạm pháp được đại xá sẽ không thi hành nữa.

Các ngài làm tờ trình thi hành tờ thông tư này cho bản chức hay và nếu có điều gì chưa rõ nghĩa bản chức sẽ sẵn sàng trả lời.

CHÁNH NHẤT




Nguyễn Huy Mẫn

CHƯỞNG LÝ




Trần Đình Trúc

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 06-TT năm 1945 về sắc lệnh đại xá của Chủ tịch Chính phủ lâm thời do Bộ Tư pháp ban hành

Số hiệu: 06-TT
Loại văn bản: Thông tư
Ngày ban hành: 28/11/1945
Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
Người ký: Nguyễn Huy Mẫn, Trần Đình Trúc
Ngày công báo: 15/12/1945
Số công báo: Số 14
Ngày hiệu lực: 13/12/1945
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Trách nhiệm hình sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thông tư 06-TT năm 1945 về sắc lệnh đại xá củ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký