Thông tư số 09-TC/QLNS được Bộ Tài chính ban hành năm 1982 hướng dẫn về việc điều tiết nguồn thu từ thuế muối cho Ngân sách xã nhằm tăng cường nguồn lực tài chính cho chính quyền cấp cơ sở, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
- Phạm vi áp dụng: Áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước, đặc biệt tập trung tại các địa phương có hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ muối.
- Đối tượng áp dụng: Ủy ban nhân dân các cấp (trọng tâm là cấp xã), cơ quan quản lý tài chính, cơ quan thuế, cùng các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế muối theo quy định của pháp luật.
Mục đích của việc điều tiết thuế muối cho Ngân sách xã
- Tạo nguồn thu chủ động và ổn định cho ngân sách cấp xã, giúp chính quyền cơ sở có thêm kinh phí để giải quyết các nhu cầu chi tiêu công cộng tại địa phương.
- Khuyến khích chính quyền cấp xã tích cực phối hợp với cơ quan thuế trong công tác quản lý thu, chống thất thu thuế và thúc đẩy phát triển sản xuất muối tại địa bàn.
- Góp phần củng cố hệ thống tài chính xã, bảo đảm nguyên tắc quản lý ngân sách thống nhất của Nhà nước kết hợp với việc phân cấp quản lý hợp lý.
Quy định về tỷ lệ điều tiết và phương thức hạch toán
- Xác định tỷ lệ điều tiết: Tỷ lệ phần trăm thuế muối để lại cho ngân sách xã được xác định cụ thể dựa trên hướng dẫn của Bộ Tài chính và tình hình thực tế sản xuất muối của từng vùng, bảo đảm cân đối hài hòa giữa ngân sách trung ương, ngân sách địa phương cấp trên và ngân sách xã.
- Quy trình trích nộp: Khoản thuế muối thu được phải được phân bổ và trích nộp kịp thời vào tài khoản ngân sách xã mở tại Ngân hàng Nhà nước hoặc Kho bạc theo đúng tỷ lệ quy định.
- Hạch toán kế toán: Cơ quan tài chính và kế toán xã có trách nhiệm hạch toán rõ ràng, minh bạch khoản thu thuế muối điều tiết vào mục lục ngân sách nhà nước của xã theo đúng chế độ kế toán hiện hành.
Quản lý và sử dụng nguồn thu thuế muối tại cấp xã
- Nguyên tắc sử dụng: Nguồn thu từ thuế muối điều tiết cho ngân sách xã phải được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả và có sự giám sát chặt chẽ của nhân dân.
- Nội dung chi ưu tiên: Ưu tiên chi cho việc tu bổ, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp cho sản xuất muối (như đê bao, kênh dẫn nước, kho bãi); đầu tư các công trình phúc lợi công cộng (trường học, trạm y tế, đường giao thông nông thôn); và hỗ trợ các hoạt động sự nghiệp, an ninh trật tự tại địa phương.
Trách nhiệm của các cơ quan tổ chức thực hiện
- Ủy ban nhân dân cấp xã: Có trách nhiệm chỉ đạo các ban ngành cấp xã phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế đôn đốc các hộ sản xuất, kinh doanh muối nộp thuế đầy đủ, đúng hạn; đồng thời lập kế hoạch thu, chi nguồn thuế muối điều tiết trình Hội đồng nhân dân xã thông qua.
- Cơ quan tài chính cấp trên: Có nhiệm vụ hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, giám sát việc trích nộp, quản lý và sử dụng nguồn thu thuế muối của ngân sách xã, kịp thời phát hiện và xử lý các sai phạm nếu có.
Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành năm 1982. Các quy định trước đây của Bộ Tài chính và các ngành liên quan trái với hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 09-TC/QLNS | Hà Nội, ngày 06 tháng 8 năm 1982 |
Căn cứ Nghị định số 108-CP ngày 13-5 -1978 của Hội đồng Chính phủ về trách nhiệm và quyền hạn quản lý tài chính và ngân sách của chính quyền Nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện.
Căn cứ Quyết định số 91-TTg ngày 15-4-1981 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 34-CT ngày 5-8-1981 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc điều chỉnh giá thu mua và giá bán lẻ muối ở các tỉnh thành phố phía Bắc và phía Nam;
Bộ Tài chính đã ra Thông tư số 11-TC/CTN ngày 28-5-1981 hướng dẫn thi hành chế độ thu thuế muối. Nay Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành việc điều tiết thuế muối cho ngân sách xã như sau:
Bảo đảm tăng nguồn thu cho ngân sách xã, tạo điều kiện cho chính quyền cấp xã có nghề làm muối có phương tiện tài chính để làm tròn chức trách và nhiệm vụ của mình;
- Khuyến khích chính quyền cấp xã có nghề làm muối tích cực giúp các cơ sở làm muối và các tổ chức thu mua muối của Nhà nước hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước về sản xuất và thu mua muối, chống mua bán muối trái phép, trốn thuế, lậu thuế, bảo đảm tập trung vào tay Nhà nước tuyệt đại bộ phận muối sản xuất tại địa phương.
- Tỉnh Hà Nam Ninh được điều tiết bình quân bằng 2% số thuế muối thu tại địa phương cho ngân sách xã.
- Tỉnh Nghệ Tĩnh được điều tiết bình quân bằng 3%.
- Thành phố Hải Phòng, tỉnh Thái Bình, Thanh Hoá 5%.
- Tỉnh Quảng Ninh, Bình Trị Thiên 10%.
- Các tỉnh và thành phố phía Nam (từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào) 5%.
Căn cứ tỷ lệ điều tiết trên, các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phối quy định tỷ lệ điều tiết thuế muối cho từng xã có nghề muối, bảo đảm tổng số thuế, muối dành cho ngân sách xã có nghề làm muối trong tỉnh, thành phố không vượt quá mức tỷ lệ (%) bình quân do Bộ Tài chính quy định trên cho mỗi địa phương.
Tổng số thu về thuế muối ở xã A là: 750đ x 1000T = 750000 đồng
Số thu về thuế muối trích dành cho ngân sách xã A: 750000 đ x 2% = 15000đ.
Số thuế muối còn lại (sau khi đã trích cho ngân sách xã A) là 750000 đ - 15000đ = 735000 đồng và số này được coi là 100% số thu nộp cho ngân sách Nhà nước và được phân chia giữa 3 cấp ngân sách theo tỷ lệ điều tiết thuế công thương nghiệp hiện hành:
1. Số thu vào ngân sách Trung ương:
735000đ x 25% = 183750 đồng
2. Số thu vào ngân sách tình X:
735000 đ x 35% = 257250 đồng
3. Số thu vào ngân sách huyện Y:
735000đ x 40% = 294000 đồng.
Thi hành Thông tư số 5-TT/LB ngày 7-3-1979 liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , Ban Tài chính giá cả huyện, thị cần tăng cường kiểm tra việc hạch toán số thuế muối thu được trên địa bàn huyện phân chia cho các cấp ngân sách trung ương tỉnh, thành phố, huyện và xã; nếu phát hiện có sai sót, thì thông báo kịp thời cho Ngân hàng Nhà nước huyện để điều chỉnh lại cho đúng.
5. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1982.
Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố có vùng làm muối cần khẩn trương triển khai việc tính toán và quyết định tỷ lệ điều tiết thuế muối cho ngân sách xã làm muối, chỉ đạo chặt chẽ việc điều chỉnh kế hoạch thu chi ngân sách năm 1982 của các xã có nghề làm muối và báo cáo kết quả về Bộ Tài chính.
| Trần Tiêu (Đã ký) |