Thông tư 10-BTC/HCVX được Bộ Tài chính ban hành năm 1991 quy định về chế độ chi tiêu hội nghị ở các cấp trong cả nước, nhằm thiết lập định mức chi tiêu tiết kiệm, hiệu quả và thống nhất quản lý ngân sách nhà nước dành cho các hoạt động hội họp.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Thông tư
Thông tư này áp dụng đối với tất cả các cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội và các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước khi tổ chức các hội nghị, hội thảo, cuộc họp định kỳ hoặc chuyên đề ở các cấp từ trung ương đến địa phương.
Các nội dung cốt lõi của chế độ chi tiêu hội nghị
Dựa trên các điều khoản đầu của văn bản, chế độ chi tiêu hội nghị được quy định cụ thể qua các nội dung sau:
- Nguyên tắc tổ chức hội nghị: Việc tổ chức hội nghị phải bảo đảm tinh thần triệt để tiết kiệm, thiết thực, không phô trương hình thức. Các đơn vị chỉ được tổ chức hội nghị khi thực sự cần thiết và phải được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch và dự toán kinh phí.
- Chế độ chi hỗ trợ tiền ăn và tiền thuê chỗ ở: Quy định chi tiết mức chi hỗ trợ tiền ăn hàng ngày cho đại biểu tham dự hội nghị. Đối với đại biểu không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, ngân sách sẽ đài thọ toàn bộ hoặc một phần chi phí ăn, ở theo định mức quy định. Đối với đại biểu hưởng lương, đơn vị cử đi có trách nhiệm thanh toán công tác phí theo chế độ hiện hành, hội nghị chỉ hỗ trợ phần chênh lệch nếu có.
- Chi phí phương tiện đi lại: Thanh toán tiền vé tàu, xe cho đại biểu không hưởng lương theo giá vé thông thường của phương tiện giao thông công cộng. Các trường hợp đặc biệt sử dụng phương tiện khác phải được ban tổ chức hội nghị phê duyệt.
- Các khoản chi phí hành chính phục vụ hội nghị: Bao gồm chi phí thuê hội trường, trang thiết bị âm thanh, ánh sáng, văn phòng phẩm, in ấn tài liệu phục vụ hội nghị, tiền nước uống và các khoản chi phí trực tiếp khác phục vụ cho công tác tổ chức. Tất cả các khoản chi này phải có hóa đơn, chứng từ hợp lệ và nằm trong giới hạn dự toán được duyệt.
- Công tác lập dự toán và quyết toán: Trước khi tổ chức hội nghị, đơn vị chủ trì phải lập dự toán chi tiết trình cơ quan tài chính đồng cấp phê duyệt. Sau khi hội nghị kết thúc, phải thực hiện quyết toán kinh phí thực tế dựa trên chứng từ hợp pháp, nghiêm cấm việc chi vượt định mức hoặc sử dụng kinh phí hội nghị vào các mục đích cá nhân, quà tặng trái quy định.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 10-BTC/HCVX năm 1991 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây về chế độ chi tiêu hội nghị trái với quy định tại Thông tư này đều bãi bỏ. Các cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện chế độ chi tiêu này tại các đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10-BTC/HCVX | Hà Nội, ngày 26 tháng 2 năm 1991 |
Để thống nhất các mức chi tiều hội nghị trong tình hình giá cả hiện nay và trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn khó khăn, hạn chế, Bộ Tài chính sửa lại một số điểm về chế độ chi tiêu hội nghị ở các cáp trong cả nước đã quy định tại Thông tư số 44-TC/HCVX ngày 24-10-1988 của Bộ Tài chính như sau:
1. Cán bộ, Tổng cục, Uỷ ban Nhà nước và các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan Đảng, đoàn thể và hội quần chúng ở TW, uỷ ban nhân dân các cấp khi có yêu cầu tổ chức hội nghị phải nghiên cứu sắp xếp một cách hợp lý, có thể kết hợp nội dung các hội nghị với nhau, chuẩn bị chu đáo nội dung, cân nhắc kỹ thành phần và số lượng đại biều cần triệu tập, thời gian và địa điểm họp thích hợp, bảo đảm cho hội nghị có kết quả thiết thực, chi tiêu hợp lý tránh phô trương, hình thức.
2. Việc chi tiêu hội nghị phải theo đúng những quy định trong thông tư này và trong phạm vi dự toán kinh phí được duyệt hoặc mức khoán chi về "hội nghị phí" trong kế hoạch hàng quý, năm.
3. Phải thực hiện nghiêm chỉnh Quyết định số 140-HĐBT ngày 15-9-1987 của Hội đồng Bộ trưởng và Chỉ thị số 439-CT ngày 24-12-1990 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về quy định thời gian tổ chức hội nghị tổng kết toàn ngành hàng năm, tối đa một năm một lần và không quá 3 ngày; nhưng phải được chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét quyết định; Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu tự quy định về thời gian tổ chức hội nghị tổng kết; hội nghị chuyên đề, tập huấn nghiệp vụ... tổ chức cho phù hợp với tinh thần các văn bản đã quy định để thi hành thống nhất trong phạm vi ngành, địa phương.
1. Mức trợ cấp tiền ăn hàng ngày:
a) Mức trợ cấp tiền ăn hàng ngày của đại biểu dự hội nghị ngành cấp Trung ương, cấp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương triệu tập là: 5000đ/ngày/đại biểu.
b) Mức trợ cấp tiền ăn hàng ngày của đại biểu dự hội nghị chuyên đề để triển khai các chế độ, chính sách của Nhà nước, hội nghị tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật do các ngành cấp trung ương và tỉnh, thành phố, đặc khu triệu tập và hội nghị ngành do cấp huyện, quận, thị xã triệu tập là: 4000đ/ngày/đại biểu.
c) Ngoài ra, đối với những hội nghị có tính chất đặc biệt như họp Quốc hội thường kỳ; hội nghị các Bí thư, chủ tịch các tỉnh, thành phố, đặc khu; hội nghị đại biểu Hội đồng nhân dân thường kỳ...; cơ quan tổ chức hội nghị bàn bạc với cơ quan tài chính đồng cấp để quy định mức trợ cấp tiền ăn hàng ngày của đại biểu dự hội nghị cho phù hợp với tính chất của những hội nghị này.
2. Các khoản chi khác:
Ngoài khoản chi về mức trợ cấp tiền ăn nói trên, cơ quan tổ chức hội nghị được dự toán các khoản chi sau đây theo chứng từ hợp lệ, hợp pháp:
a) Tiền thuê phòng ngủ cho đại biểu ở xa đến; tiền thuê hội trường, tiền thuê xe ô tô đưa đón đại biểu từ nơi ở đến địa điểm tổ chức hội nghị và ngược lại (nếu có phát sinh và có chứng từ hoá đơn hợp pháp).
b) Tiền thuê người nấu ăn, làm vệ sinh, tạp vụ (bình quân một người nấu ăn phục vụ 20 đại biểu; một người làm vệ sinh, tạp vụ phục vụ 40 đại biểu) hoặc trả phụ phí nấu ăn cho nhà khách hoặc nơi tổ chức hội nghị (nếu cơ quan tổ chức hội nghị phải thuê ở ngoài).
c) Tiền thuê tài liệu phục vụ hội nghị.
d) Tiền vé tàu, xe cho đại biểu ở nơi xa đến dự hội nghị (đối với những đại biểu mà cơ quan tổ chức hội nghị phải đài thọ cả vé tàu xe).
e) Các khoản chi khác như tiền nước uống cho đại biểu và cho báo cáo viên, người thuyết mình, tiền thuốc phòng bệnh; giải trí, trang trí, cơ quan tổ chức hội nghị cũng phải dự trữ cụ thể để cơ quan tài chính đồng cấp xem xét có thể khoán một khoản kinh phí nhất định trên cơ sở tính toán hết sức chặt chẽ, tiết kiệm.
1. Cơ quan tài chính các cấp khi thông báo dự toán và cấp phát kinh phí hàng quý, năm phải thông báo rõ mức khoán chi về hội nghị các cơ quan hành chính, sự nghiệp. thủ trưởng cơ quan hành chính, sự nghiệp bảo đảm chi cho hội nghị trong phạm vi kinh phí đã được cơ quan tài chính thông báo. Nếu kinh phí chi cho hội nghị vượt mức được thông báo thì sẽ bị xuất toán, thu hồi phần chênh lệch nộp vào ngân sách Nhà nước hoặc trừ vào kinh phí được cấp phát quý sau, năm sau.
2. Khoản chi về hội nghị đối với cơ quan HCSN được hạch toán vào mục 73 "Hội nghị phí" theo chương, loại, khoản hạng tương ứng của mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành.
3. Đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh, khi tổ chức hội nghị, căn cứ vào các mức chi quy định trong thông tư này để vận dụng phù hợp với tinh thần hết sức tiết kiệm, có hiệu quả thiết thực khi tổ chức hội nghị, đảm bảo nghĩa vụ thu nộp ngân sách Nhà nước theo đúng luật định.
4. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Các quy định của Bộ Tài chính trước đây về chế độ chi tiêu cho các hội nghị trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
Trong quá trình thực hiện thông tư này, nếu có gì khó khăn, mắc mứu; đề nghị các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở phản ánh cho Bộ Tài chính để nghiên cứu, có bổ sung sửa đổi cần thiết.
| Lý Tài Luận (Đã Ký) |