Ngày 18 tháng 8 năm 1994, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 105-TC/ĐT hướng dẫn thực hiện chế độ bảo hiểm đối với các công trình xây dựng. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho hoạt động bảo hiểm trong lĩnh vực đầu tư xây dựng tại Việt Nam, nhằm bảo toàn nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cũng như của các tổ chức, cá nhân trước những rủi ro khách quan trong quá trình thi công.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Thông tư
Thông tư này quy định bắt buộc áp dụng đối với các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước. Đối với các công trình xây dựng sử dụng các nguồn vốn khác, Bộ Tài chính khuyến khích chủ đầu tư và nhà thầu tham gia bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro. Đối tượng áp dụng trực tiếp bao gồm các chủ đầu tư (hoặc ban quản lý dự án) và các nhà thầu nhận thầu xây lắp, lắp đặt thiết bị công trình.
Quy định về các loại hình bảo hiểm bắt buộc
- Bảo hiểm thiệt hại vật chất công trình: Bảo hiểm cho toàn bộ các hạng mục công trình xây dựng, lắp đặt chống lại các rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ gây thiệt hại vật chất trong quá trình thi công.
- Bảo hiểm máy móc, thiết bị thi công: Áp dụng đối với các loại máy móc, phương tiện phục vụ thi công của nhà thầu đặt tại công trường.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba: Bảo hiểm cho các thiệt hại về người và tài sản của bên thứ ba phát sinh trực tiếp từ quá trình thi công công trình.
Xác định giá trị bảo hiểm và phí bảo hiểm
- Giá trị bảo hiểm: Phải tương đương với đầy đủ giá trị dự toán xây lắp hoặc giá trị trúng thầu thực tế của công trình, bao gồm cả chi phí khảo sát, thiết kế, nguyên vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí hợp pháp khác được duyệt.
- Phí bảo hiểm: Được tính toán dựa trên tỷ lệ phí bảo hiểm do Bộ Tài chính ban hành hoặc theo thỏa thuận phù hợp với mức độ rủi ro của từng loại công trình. Khoản phí bảo hiểm này được tính trực tiếp vào tổng mức đầu tư của dự án và được hạch toán vào giá trị tài sản cố định khi công trình hoàn thành bàn giao.
Trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia bảo hiểm
- Trách nhiệm của chủ đầu tư và nhà thầu: Chủ đầu tư có nghĩa vụ tổ chức mua bảo hiểm hoặc thỏa thuận giao cho nhà thầu thực hiện. Bên mua bảo hiểm phải cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin liên quan đến công trình, thực hiện nghiêm túc các biện pháp an toàn lao động, phòng chống cháy nổ và thiên tai theo quy định.
- Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm: Có nghĩa vụ hướng dẫn bên mua bảo hiểm thực hiện các biện pháp an toàn, tiến hành giám sát rủi ro định kỳ và thực hiện bồi thường thiệt hại kịp thời, đầy đủ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng.
Quy trình giải quyết bồi thường và xử lý tranh chấp
- Khi xảy ra sự cố gây thiệt hại, bên mua bảo hiểm phải lập tức thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm và các cơ quan chức năng để tiến hành lập biên bản hiện trường, xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất.
- Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan để giám định tổn thất và đưa ra phương án bồi thường hợp lý trong thời hạn quy định.
- Mọi tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Nếu không đạt được sự thống nhất, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án kinh tế hoặc cơ quan Trọng tài có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 105-TC/ĐT có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành (ngày 18 tháng 8 năm 1994). Các quy định trước đây của Bộ Tài chính và các ngành liên quan về bảo hiểm công trình xây dựng trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Việc triển khai thực hiện Thông tư này góp phần nâng cao ý thức quản lý rủi ro và bảo toàn nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 105-TC/ĐT | Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 1994 |
CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 105 TC/ĐT NGÀY 8-12-1994 HƯỚNG DẪN BẢO HIỂM CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
Căn cứ Điều lệ "Quản lý đầu tư và xây dựng" ban hành kèm theo Nghị định số 177/CP ngày 20/10/1994 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị định số 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm và các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm công trình xây dựng như sau:
1. Chủ đầu tư các dự án đầu tư thuộc sở hữu Nhà nước phải tiến hành mua bảo hiểm công trình xây dựng.
Các dự án đầu tư trực tiếp thuộc nguồn vốn của nước ngoài sẽ áp dụng theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2. Chủ đầu tư phải mua bảo hiểm cho công trình tại một Công ty bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam. Phí bảo hiểm là một bộ phận vốn đầu tư của dự án tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị công trình.
3. Các tổ chức nhận thầu xây lắp, các tổ chức tư vấn mua bảo hiểm cho vật tư, thiết bị, nhà xưởng phục vụ thi công, bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba, bảo hiểm cho sản phẩm khảo sát, thiết kế trong quá trình thực hiện dự án. Phí bảo hiểm tính vào chi phí sản xuất.
4. Bảo hiểm công trình xây dựng phải thể hiện trong nội dung hồ sơ mời thầu hoặc tổng dự toán công trình.
1. Đối tượng mua bảo hiểm (người tham gia bảo hiểm):
- Chủ đầu tư các dự án thuộc sở hữu Nhà nước.
- Các tổ chức có liên quan đến các dự án đầu tư, xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước như: Tổ chức tư vấn khảo sát, thiết kế, cung ứng vật tư, thiết bị và các tổ chức xây lắp...
2. Những loại hình bảo hiểm:
2.1. Đối với chủ đầu tư các dự án thuộc sở hữu Nhà nước:
Khi tiến hành đầu tư và xây dựng, chủ đầu tư phải mua những loại bảo hiểm sau đây:
+ Bảo hiểm vật tư, thiết bị xây dựng thuộc trách nhiệm quản lý của chủ đầu tư trong quá trình vận chuyển từ nơi mua đến chân công trình (đối với vật tư thiết bị mua theo giá CIF chỉ tính từ nơi nhận hàng trong nước) và đang bảo quản trong kho. Phí bảo hiểm được tính vào giá của vật tư thiết bị.
+ Bảo hiểm công trình xây dựng trong quá trình xây lắp để đối phó với những thiệt hại do những rủi ro bất ngờ như cháy, lũ lụt, động đất, ... Phí bảo hiểm là một bộ phận của giá dự toán công trình xây dựng và tính theo tỷ lệ phần trăm trên dự toán công trình và được quyết toán trong khoản mục chi phí khác.
2.2. Đối với các tổ chức có liên quan đến các dự án đầu tư xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước:
Cần mua các loại bảo hiểm sau:
+ Bảo hiểm tài sản thuộc trách nhiệm quản lý như máy móc, thiết bị thi công.
+ Bảo hiểm trách nhiệm bao gồm trách nhiệm đối với thiệt hại thân thể (chết hoặc bị thương) và tài sản của người thứ ba trong quá trình thi công, bảo hiểm tai nạn con người (bảo hiểm trách nhiệm đối với người lao động của tổ chức nói trên trong thời gian được bảo hiểm), bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của tổ chức tư vấn đầu tư. Phí bảo hiểm được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong giá thành sản phẩm hoặc chi phí của các tổ chức nói trên.
3. Cách thức tiến hành mua bảo hiểm, thanh toán phí bảo hiểm và bồi thường:
3.1. Nơi mua bảo hiểm là các công ty bảo hiểm được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
3.2. Thủ tục mua bảo hiểm: Trường hợp không có thoả thuận nào khác giữa người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm thì thủ tục mua bảo hiểm sẽ áp dụng như sau:
a) Đối với chủ đầu tư: Chủ đầu tư trực tiếp hoặc uỷ quyền cho các tổ chức xây lắp mua bảo hiểm. Người mua phải nộp đầy đủ các hồ sơ sau đây:
- Hợp đồng mua vật tư, thiết bị.
- Sơ đồ mặt bằng công trình.
- Văn bản tóm tắt về kết cấu và biện pháp thi công công trình.
- Tài liệu liên quan đến khí hậu, thời tiết, địa chất, thuỷ văn của công trình.
- Bản trích lục phần bảo hiểm trong hợp đồng xây dựng.
- Tổng dự toán công trình được duyệt, hoặc giá trúng thầu.
- Những văn bản cần thiết khác theo yêu cầu của quy tắc bảo hiểm.
Căn cứ vào hồ sơ nói trên, công ty bảo hiểm xem xét đánh giá quyết định phí bảo hiểm và cấp giấy chứng nhận bảo hiểm kèm theo đơn bảo hiểm cho chủ đầu tư.
b) Các tổ chức có liên quan đến hợp đồng xây dựng khác: Người mua phải nộp các hồ sơ sau đây:
- Bản kê số lượng, giá trị máy móc, thiết bị thi công trên công trường.
- Bản danh sách lao động tham gia mua bảo hiểm.
- Bản kê những dự án đầu tư đã thực hiện trong 5 năm gần nhất.
- Dự kiến giá trị tài sản xung quanh công trường có thể tổn thất trong quá trình thi công.
Công ty bảo hiểm xem xét, đánh giá và định phí bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm kèm theo đơn bảo hiểm.
3.3. Thanh toán phí bảo hiểm:
- Đối với bảo hiểm hàng hoá, tài sản vật tư thiết bị. Phí bảo hiểm phải thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định trong hợp đồng bảo hiểm.
- Đối với bảo hiểm công trình xây dựng: Phí bảo hiểm có thể thanh toán một hoặc nhiều lần theo kế hoạch được duyệt trong năm.
- Đối với các loại bảo hiểm khác, phí bảo hiểm thanh toán một lần.
3.4. Bồi thường:
- Khi xảy ra sự cố thuộc trách nhiệm bảo hiểm người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho công ty bảo hiểm và trong vòng 7 ngày sau phải thông báo chi tiết bằng văn bản cho công ty bảo hiểm.
- Công ty bảo hiểm phải cử cán bộ hoặc mời chuyên gia chuyên ngành (khi cần thiết) để đánh giá nguyên nhân, mức độ tổn thất.
- Công ty bảo hiểm phải bồi thường theo đúng các điều kiện và điều khoản của hợp đồng bảo hiểm.
- Đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước và tín dụng Nhà nước phải ưu tiên mua bảo hiểm tại các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước Việt Nam.
- Các công ty bảo hiểm muốn tiến hành kinh doanh các loại hình bảo hiểm quy định trong Thông tư này phải trình Bộ Tài chính phê chuẩn quy tắc và phí bảo hiểm.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các Bộ và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết.
| Nguyễn Sinh Hùng (Đã Ký) |