Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Ngày 10 tháng 10 năm 1992, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 11/TT-NH5 hướng dẫn thực hiện Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa việc quản lý và thực thi chính sách dự trữ bắt buộc, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia trong giai đoạn đầu đổi mới nền kinh tế.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Thông tư áp dụng đối với tất cả các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam có nhận tiền gửi của các tổ chức và cá nhân, bao gồm các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và các hợp tác xã tín dụng.

Đối tượng phải thực hiện dự trữ bắt buộc (Điều 1)

  • Tất cả các tổ chức tín dụng được phép hoạt động kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam, có nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đều thuộc đối tượng phải thực hiện dự trữ bắt buộc.
  • Các tổ chức này có trách nhiệm mở tài khoản tiền gửi dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước nơi tổ chức tín dụng đặt trụ sở chính hoặc theo chỉ định của Ngân hàng Nhà nước để theo dõi và giám sát số dư dự trữ.

Các loại tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc (Điều 2)

  • Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn bằng đồng Việt Nam (VND) của các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức xã hội gửi tại tổ chức tín dụng.
  • Tiền gửi bằng ngoại tệ quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm tính toán để làm cơ sở xác định mức dự trữ bắt buộc tương ứng.
  • Các khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn của dân cư tại các tổ chức tín dụng.
  • Thông tư cũng loại trừ một số khoản tiền gửi không phải tính dự trữ bắt buộc như tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác gửi tại tổ chức tín dụng đó để thanh toán, hoặc các nguồn vốn vay trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc và thẩm quyền quyết định (Điều 3)

  • Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được xác định dựa trên tỷ lệ phần trăm (%) giữa số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước so với tổng số dư các loại tiền gửi huy động được tại tổ chức tín dụng.
  • Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là người có thẩm quyền quyết định và điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi trong từng thời kỳ kinh tế, bảo đảm phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.
  • Tỷ lệ này có thể được phân biệt giữa tiền gửi bằng đồng Việt Nam và tiền gửi bằng ngoại tệ, cũng như giữa tiền gửi ngắn hạn và dài hạn nhằm khuyến khích các tổ chức tín dụng huy động nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.

Phương thức tính toán và duy trì số dư dự trữ bắt buộc (Điều 4)

  • Số tiền dự trữ bắt buộc được tính toán định kỳ dựa trên số dư tiền gửi bình quân của kỳ tính toán trước đó theo hướng dẫn cụ thể của Ngân hàng Nhà nước.
  • Tổ chức tín dụng có trách nhiệm tự tính toán số tiền phải dự trữ bắt buộc theo đúng công thức quy định, sau đó gửi báo cáo số liệu cho Ngân hàng Nhà nước nơi mở tài khoản để kiểm tra, đối chiếu và giám sát.
  • Trong kỳ duy trì dự trữ, tổ chức tín dụng phải bảo đảm số dư bình quân trên tài khoản tiền gửi dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước không được thấp hơn mức dự trữ bắt buộc đã được xác định cho kỳ đó.
  • Mọi hành vi thiếu hụt dự trữ bắt buộc hoặc không chấp hành đúng chế độ báo cáo sẽ bị xử lý nghiêm theo các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng hiện hành.

Hiệu lực thi hành

Thông tư 11/TT-NH5 năm 1992 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây của Ngân hàng Nhà nước trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Việc thực hiện nghiêm túc các điều khoản từ Điều 1 đến Điều 4 của Thông tư này là cơ sở pháp lý quan trọng để thiết lập kỷ cương trong việc chấp hành dự trữ bắt buộc của hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam.

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 11-NH5/TT

Hà Nội, ngày 06 tháng 7 năm 1992

THÔNG TƯ

SỐ 11-NH5/TT NGÀY 6-7-1992 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUI CHẾ DỰ TRỮ BẮT BUỘC

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký quyết định số 108/QĐ-NH5 ngày 09-6-1992 ban hành "Qui chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng" và Quyết định số 117/QĐ-NH1 ngày 26-6-1992 về "Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng và tổ chức tín dụng". Ngân hàng Nhà nước Trung ương hướng dẫn thêm một số điểm cụ thể việc thực hiện như sau:

1. Đối tượng thi hành qui chế dự trữ bắt buộc gồm tất cả các Ngân hàng thương mại quốc doanh, cổ phần, Ngân hàng đầu tư và phát triển được cấp giấy phép hoạt động mới hoặc đang trong thời gian điều chỉnh về tổ chức và hoạt động để được cấp giấy phép mới (gồm cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam) có huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam.

- Các hợp tác xã tín dụng ở nông thôn, công ty tài chính trước mắt tạm thời chưa phải thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc.

- Trường hợp tổ chức tín dụng bị đặt vào tình trạng bảo tồn hoặc phá sản, trong thời gian chưa chấm dứt hoạt động, tuỳ trường hợp cụ thể Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét chấp thuận cho tổ chức tín dụng đó được rút một phần hoặc toàn bộ tiền dự trữ bắt buộc.

2. Đối với các tổ chức tín dụng có huy động tiền gửi bằng ngoại tệ trong thời gian chưa có qui chế riêng, việc thực hiện dự trữ bắt buộc cũng theo tỷ lệ 10% tính trên số dư tiền gửi ngoại tệ huy động được. Tiền dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ gửi tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc tại một ngân hàng do Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước uỷ quyền bằng văn bản vào một tiểu khoản riêng trong tài khoản tiền dự trữ bắt buộc, không được dự trữ bắt buộc bằng đồng ngoại tệ và ngược lại.

3. Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, nơi trung tâm hoặc trung tâm kiêm hội sở tổ chức tín dụng mở tài khoản chính, nay mở thêm một tài khoản tiền dự trữ bắt buộc cho tổ chức tín dụng đó. Tài khoản này sử dụng chung cho các trường hợp dưới và trên mức 35%.

Các chi nhánh trực thuộc của tổ chức tín dụng không phải mở tài khoản tiền dự trữ bắt buộc.

4. Căn cứ để tính dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam là tiền gửi hoặc có tính chất tiền gửi thể hiện trên bảng cân đối tài khoản kế toán tổng hợp của tổ chức tín dụng (tức là gồm hoạt động của trung tâm, các hội sở và các chi nhánh trực thuộc).

Các loại tiền gửi và có tính chất tiền gửi sau đây là căn cứ để tính dự trữ bắt buộc:

- Tiền gửi thanh toán của tổ chức và cá nhân (kể cả tiền gửi Kho bạc Nhà nước, tiền gửi của Tổng Cty Vàng bạc, đá quý).

- Tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn của các tổ chức và cá nhân.

- Tiền gửi chuyên dùng của các tổ chức kinh tế.

- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn của dân cư.

- Các khoản tiền quản lý, giữ hộ.

- Trái phiếu, kỳ phiếu dưới 1 năm.

Cụ thể, gồm: các tài khoản cấp I, từ 30 đến 35 và tài khoản 37; các tài khoản cấp II gồm 660, 780 (hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng ban hành theo quyết định số 104/NH-QĐ ngày 10-8-1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước).

5. Các tính số tiền dự trữ bắt buộc:

5.1. Tính theo công thức:

Số tiền dự trữ bắt buộc tháng này

=

Số tiền gửi bình quân tháng trước

x

Tỷ lệ dự trữ
bắt buộc

5.2. Các tính số dư tiền gửi bình quân tháng trước.

Trong thời gian trước mắt, lấy số dư có tài khoản nói tại điểm 4 của bảng cân đối tài khoản kế toán tháng trước, để tính theo công thức: số đầu tháng cộng số cuối tháng, chia cho 2.

Ví dụ: tổ chức tín dụng A có số dư các tài khoản tiền gửi nói tại điểm 4. 2. trên đây, số đầu tháng 7-92 là: 12 tỷ 400 và số cuối tháng 7-92 là 13 tỷ 200.

Như vậy, tổng số dư tiền gửi bình quân trong tháng 7-1992 của tổ chức tín dụng A có:

12 tỷ 400 13 tỷ 200

=

12 tỷ 800

2

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 10% thì số dư có tài khoản tiền dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng A tháng 8-1992 phải là:

12 tỷ 800

x 10

=

1 tỷ 28

100

5.3. Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố đối chiếu với số dư có thực tế trên tài khoản tiền dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng A để xác định số tiền thừa, thiếu và xử lý việc hạch toán.

6. Trường hợp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ lệ dự trữ bắt buộc trên mức 35% cách tính vẫn theo công thức nói trên. Riêng việc tính lãi cho số tiền dự trữ bắt buộc trên mức 35%, theo hai bước:

6.1 Bước 1:

Số tiền dự trữ bắt buộc trên mức 35%

=

Tỷ lệ dự trữ 1/2 bắt buộc công bố mới

- 35%

x

Số dư tiền gửi bình quân tháng trước

Ví dụ: tháng 5-1993, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ lệ dự trữ bắt buộc 40%. Theo công thức trên và thí dụ số dư tiền gửi bình quân trong tháng cũng là 12 tỷ 800, có:

(40-35) x 12,8 tỷ

=

640 triệu

100

hoặc

(12,8 tỷ x 40)

(12,8 tỷ x 35)

-

= 640 triệu

100

100

6.2. Bước 2: tính lãi

Sau khi đã xử lý theo điểm 7 dưới đây, số tiền có trên tài khoản dự trữ bắt buộc thực tế vượt trên mức 35% (640 triệu) được Ngân hàng Nhà nước trả lãi theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày trích chuyển đủ số tiền dự trữ bắt buộc theo tỷ lệ mới.

7. Xử lý thừa, thiếu tiền dự trữ bắt buộc

7.1. Ngày 15 hàng tháng, tổ chức tín dụng phải đối chiếu số dư trên tài khoản tiền gửi dự trứ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước với mức tiền gửi phải dự trữ bắt buộc và báo cáo kết quả thực hiện cho Ngân hàng Nhà nước nơi tổ chức tín dụng mở tài khoản tiền gửi chính.

7.2. Sau khi kiểm tra số liệu báo cáo của tổ chức tín dụng, chậm nhất là ngày 20 hàng tháng, Ngân hàng Nhà nước thông báo cho tổ chức tín dụng mức tiền phải dự trữ bắt buộc của tháng đó và tiến hành xử lý thừa, thiếu theo các điều 7 và 8 của qui chế dự trữ bắt buộc.

a) Trường hợp thiếu: nêu trên tài khoản tiền gửi chính của tổ chức tín dụng ở Ngân hàng Nhà nước không còn tiền để thanh toán ngay, phải yêu cầu tổ chức tín dụng trong thời hạn 03 ngày nộp bằng tiền mặt hoặc đi vay. Quá thời hạn này tổ chức tín dụng không nộp đủ số tiền thiếu hụt là vi phạm qui chế dự trữ bắt buộc và phải chịu phạt về số tiền thiếu hụt đó theo qui chế xử phạt của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Ngoài việc xử phạt vi phạm, nếu trên tài khoản tiền gửi chính của tổ chức tín dụng có tiền, thì Ngân hàng Nhà nước vẫn phải trích ngay cho đến khi đủ mức tiền dự trữ bắt buộc.

b) Trường hợp thừa: Ngân hàng Nhà nước chủ động trích số tiền thừa từ tài khoản tiền dự trữ bắt buộc sang tài khoản tiền gửi chính của tổ chức tín dụng. Nếu sau 03 ngày, Ngân hàng Nhà nước không trích chuyển cũng sẽ bị xử lý theo qui chế xử phạt của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

c) Đối với trường hợp dự trữ bắt buộc chênh lệch thừa, thiếu so với mức phải dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước còn phải:

- Tính và trả lãi cho tổ chức tín dụng về số tiền chênh lệch thừa, từ ngày 01 đến ngày xử lý;

- Tính và thu của tổ chức tín dụng, tiền lãi về số tiền chênh lệch thiếu từ ngày 01 đến ngày xử lý.

8. Căn cứ để tính dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ là tiền gửi hoặc có tính chất tiền gửi thể hiện trên bảng cân đối tài khoản kế toán tổng hợp của tổ chức tín dụng, cụ thể gồm các tài khoản kế toán cấp I số:

- 17: tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức, người nước ngoài.

- 22: tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức, cá nhân trong nước và xí nghiệp liên doanh Việt Nam - nước ngoài.

Cách tính số tiền dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ và xử lý thừa thiếu dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ theo cách tính và xử lý bằng đồng Việt Nam, nói tại các điểm 5 và 7 của Thông tư này.

9. Khiếu nại và thẩm quyền giải quyết:

9.1. Tổ chức tín dụng được quyền khiếu nại, kể cả khiếu nại lên tới Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về các quyết định xử lý chưa thoả đáng về chấp hành qui chế dự trữ bắt buộc.

9.2. Chậm nhất sau 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn khiếu nại về dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng, giám đốc chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố, hoặc giám đốc Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cần khẩn trương xem xét giải quyết, hoặc phải thỉnh thị lên NHNN TW. Trong thời gian chưa được giải quyết, tổ chức tín dụng phải chấp hành quyết định của NHNN.

10.Vào ngày 25 hàng tháng, chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố, Sở giao dịch NHNN tổng hợp báo cáo tình hình chấp hành dự trữ bắt buộc (theo mẫu đính kèm công văn này).

10.1. Các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố từ Quảng Bình trở ra, lập thành 02 bản:

- 01 bản gửi Vụ các ngân hàng và TCTD-NHNN TW (Hà Nội)

- 01 bản lưu.

10.2. Các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố từ Quảng Trị trở vào, lập thành 03 bản:

- 01 bản gửi Vụ các ngân hàng và TCTD-NHNN TW (Hà Nội)

- 01 bản gửi thường trực Vụ các ngân hàng và TCTD ở 17 Bến Chương Dương, thành phố Hồ Chí Minh.

- 01 bản lưu

11. Vụ trưởng Vụ Kế toán hướng dẫn việc hạch toán kế toán dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam và bằng ngoại tệ.

Trong quá trình thực hiện, nếu có trở ngại vướng mắc, yêu cầu phản ảnh về NHNH TW (Vụ các NH và TCTD) để hướng dẫn giải quyết.

Chu Văn Nguyễn

(Đã ký)

Văn bản thay thế
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 11/TT-NH5 năm 1992 thực hiện Quy chế dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước ban hành

Số hiệu: 11-NH5/TT
Loại văn bản: Thông tư
Ngày ban hành: 06/07/1992
Nơi ban hành: Ngân hàng Nhà nước
Người ký: Chu Văn Nguyễn
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 22/07/1992
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Tiền tệ - Ngân hàng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thông tư 11/TT-NH5 năm 1992 thực hiện Quy chế...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký