Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Thông tư 110/2007/TT-BTC được ban hành ngày 12 tháng 09 năm 2007 bởi Bộ Tài chính, hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 06 năm 2007 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Thông tư này tập trung hướng dẫn chi tiết về điều kiện vốn pháp định, quy trình xác nhận vốn, chế độ quản lý tài chính, nghĩa vụ thuế và công tác báo cáo đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ đòi nợ tại Việt Nam.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Thông tư áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Các đối tượng liên quan bao gồm doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ, chủ nợ, khách nợ và các tổ chức, cá nhân có giao dịch liên quan đến hoạt động đòi nợ.

Quy định về mức vốn pháp định và duy trì vốn

  • Mức vốn pháp định bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng).
  • Doanh nghiệp phải duy trì mức vốn điều lệ thực tế không thấp hơn mức vốn pháp định này trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
  • Trường hợp vốn điều lệ bị giảm xuống dưới mức vốn pháp định, doanh nghiệp phải thực hiện bổ sung vốn trong thời hạn quy định để đảm bảo điều kiện hoạt động liên tục.

Hồ sơ và thủ tục xác nhận vốn pháp định

  • Đối với doanh nghiệp mới thành lập: Hồ sơ bao gồm văn bản xác nhận tiền gửi tại ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam của các thành viên sáng lập hoặc cổ đông sáng lập. Đối với phần vốn góp bằng tài sản, phải có chứng thư của tổ chức có chức năng định giá hợp pháp về giá trị tài sản góp vốn.
  • Đối với doanh nghiệp đang hoạt động chuyển sang kinh doanh dịch vụ đòi nợ: Phải có báo cáo tài chính được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập trong năm gần nhất hoặc tại thời điểm gần nhất tính đến ngày nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
  • Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của số liệu và hồ sơ xác nhận vốn.

Quy định về quản lý tài chính và doanh thu

  • Doanh thu của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ là các khoản phí dịch vụ thu được từ khách hàng (chủ nợ) theo thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng dịch vụ đòi nợ đã ký kết.
  • Doanh nghiệp không được phép thu bất kỳ khoản tiền hoặc lợi ích vật chất nào khác ngoài các khoản phí dịch vụ đã được quy định rõ ràng trong hợp đồng.
  • Mọi khoản tiền đòi được từ khách nợ phải được doanh nghiệp mở tài khoản theo dõi riêng và thực hiện chuyển trả đầy đủ, đúng hạn cho chủ nợ theo đúng các điều khoản cam kết trong hợp đồng dịch vụ đòi nợ.

Chi phí hoạt động và nghĩa vụ thuế

  • Các khoản chi phí phát sinh thực tế liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ, nếu có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp, được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện đăng ký thuế, kê khai thuế và nộp đầy đủ các loại thuế phát sinh bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.

Chế độ báo cáo, kiểm tra và giám sát tài chính

  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ phải thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính định kỳ gửi cơ quan thuế và cơ quan tài chính có thẩm quyền.
  • Cơ quan tài chính phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước liên quan thực hiện công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc chấp hành các quy định về vốn pháp định và quản lý tài chính tại doanh nghiệp.

Hiệu lực thi hành

Thông tư 110/2007/TT-BTC có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định trước đây của Bộ Tài chính trái với hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp cần kịp thời phản ánh về Bộ Tài chính để xem xét, giải quyết.

BỘ TÀI CHÍNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Số: 110/2007/TT-BTC

Hà Nội, ngày 12tháng 9 năm 2007

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 104/2007/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ ĐÒI NỢ

Thi hành Điều 29 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ báo cáo và chế độ kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ như sau:

I. Về chế độ báo cáo

1. Đối với Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hiện hành của Nhà nước đối với doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ thực hiện báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính các loại báo cáo sau theo định kỳ hàng quý, năm:

- Tình hình kinh doanh dịch vụ đòi nợ trong kỳ trong đó nêu rõ số lượng hợp đồng đòi nợ đã ký với khách hàng, số lượng hợp đồng tư vấn cho khách hàng về các vấn đề pháp lý liên quan đến xử lý nợ; tổng số tiền nhận uỷ quyền đòi nợ; số tiền nợ thu được theo uỷ quyền, số lượng hợp đồng kết thúc trong kỳ (theo mẫu biểu số 1).

- Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ gửi các báo cáo tài chính khác để phục vụ cho mục tiêu quản lý.

Thời hạn gửi báo cáo quý chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc quý; thời hạn gửi báo cáo năm chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ vi phạm chế độ báo cáo theo quy định tại Thông tư này sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán.

2. Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện báo cáo Bộ Tài chính về tình hình kinh doanh dịch vụ đòi nợ trên địa bàn, bao gồm:

- Báo cáo định kỳ hàng quý, năm về tình hình kinh doanh dịch vụ đòi nợ trên địa bàn trong đó nêu rõ (theo mẫu biểu số 2):

+ Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ.

+ Tổng số vốn điều lệ, doanh nghiệp có mức vốn điều lệ lớn nhất, doanh nghiệp có mức vốn điều lệ thấp nhất.

+ Tổng số nợ nhận uỷ quyền đòi nợ đến kỳ báo cáo.

+ Tổng số nợ đã đòi được theo uỷ quyền đến kỳ báo cáo.

+ Kết quả kinh doanh trong kỳ: tổng số lãi, lỗ, số doanh nghiệp lãi, số doanh nghiệp lỗ, doanh nghiệp có số lãi (lỗ) cao nhất, doanh nghiệp có số lãi (lỗ) thấp nhất.

+ Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của doanh nghiệp.

+ Báo cáo kết quả kiểm tra doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ trong kỳ (nếu có).

Thời hạn gửi báo cáo quý chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày kết thúc quý; thời hạn gửi báo cáo năm chậm nhất là 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

- Báo cáo đột xuất theo nội dung yêu cầu của Bộ Tài chính.

II. Về chế độ kiểm tra giám sát

1. Kiểm tra, giám sát của Bộ Tài chính

Bộ Tài chính thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc chấp hành chế độ tài chính và việc chấp hành các quy định về kinh doanh dịch vụ đòi nợ đối với các doanh nghiệp trên phạm vi cả nước thông qua các hình thức kiểm tra tại chỗ và giám sát từ xa. Kết quả kiểm tra tại chỗ đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ được Bộ Tài chính thông báo cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có doanh nghiệp được kiểm tra.

2. Kiểm tra, giám sát của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về kinh doanh dịch vụ đòi nợ đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thông qua các hình thức kiểm tra tại chỗ và giám sát từ xa. Việc kiểm tra phải tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật, được tiến hành theo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu quản lý.

3. Việc kiểm tra đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ của Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện theo quy trình, thủ tục sau

- Việc kiểm tra được tiến hành theo Quyết định kiểm tra của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Quyết định kiểm tra được thông báo cho doanh nghiệp kiểm tra ít nhất là 03 (ba) ngày trước khi tiến hành kiểm tra, trừ trường hợp kiểm tra bất thường khi có vi phạm phápluật xảy ra.

- Quyết định kiểm tra bao gồm các nội dung chính sau:

+ Căn cứ pháp lý cho việc kiểm tra;

+ Nội dung, yêu cầu, phạm vi kiểm tra;

+ Thời hạn kiểm tra;

+ Thành viên đoàn kiểm tra; quyền và trách nhiệm của người thực hiện nhiệm vụ kiểm tra;

+ Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được kiểm tra.

- Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định kiểm tra có thể gia hạn thời hạn kiểm tra. Thời gian gia hạn thêm tối đa bằng thời hạn kiểm tra đã ghi tại Quyết định kiểm tra ban đầu.

- Sau khi kết thúc kiểm tra, người được giao nhiệm vụ kiểm tra phải có văn bản kết luận về những nội dung đã kiểm tra. Văn bản kết luận được gửi cho người ra quyết định kiểm tra và doanh nghiệp được kiểm tra.

III. Tổ chức thực hiện

1. Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.

2. Đối với các doanh nghiệp đã được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ trước ngày Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ có hiệu lực thi hành

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp phải gửi báo cáo sau đến cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính:

- Hồ sơ chứng minh điều kiện về vốn: bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cuối tháng gần nhất.

- Hồ sơ chứng minh điều kiện về tiêu chuẩn đối với người quản lý và giám đốc chi nhánh của doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ.

Sau 60 ngày kể từ ngày Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp không thực hiện báo cáo theo quy định trên đây và doanh nghiệp không đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh dịch vụ đòi nợ theo quy định mới sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các đơn vị phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.

Nơi nhận:

- Văn phòng TW Đảng;

- Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước;

- Toà án nhân dân tối cao;

- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

- Các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ;

- Cơ quan Trung ương của các Đoàn thể;

- Công báo;

- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố;

- Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố;

- Kiểm toán Nhà nước;

- Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);

- Các đơn vị thuộc BTC;

- Website CP, Website Bộ Tài chính;

- Lưu: VT, Vụ TCNH.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

Trần Xuân Hà

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 110/2007/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ do Bộ Tài chính ban hành

Số hiệu: 110/2007/TT-BTC
Loại văn bản: Thông tư
Ngày ban hành: 12/09/2007
Nơi ban hành: Bộ Tài chính
Người ký: Trần Xuân Hà
Ngày công báo: 25/09/2007
Số công báo: Từ số 687 đến số 688
Ngày hiệu lực: 10/10/2007
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Doanh nghiệp
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thông tư 110/2007/TT-BTC hướng dẫn Nghị định...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký