Thông tư 124-TT-TTr do Thanh tra Nhà nước ban hành năm 1990 hướng dẫn chi tiết về tổ chức của các tổ chức thanh tra Nhà nước, nhằm cụ thể hóa các quy định của Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 về bộ máy, chức năng và cơ cấu tổ chức của hệ thống thanh tra từ trung ương đến địa phương.
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan thanh tra Nhà nước ở các cấp, các ngành, bao gồm thanh tra bộ, thanh tra tỉnh, thanh tra sở, thanh tra huyện, cùng các cán bộ, thanh tra viên hoạt động trong hệ thống thanh tra nhà nước.
Hệ thống tổ chức và nguyên tắc hoạt động của các cơ quan thanh tra
- Hệ thống tổ chức thanh tra Nhà nước được thiết lập thống nhất từ trung ương đến địa phương, hoạt động theo nguyên tắc song trùng trực thuộc. Các tổ chức thanh tra vừa chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, vừa chịu sự chỉ đạo về công tác, nghiệp vụ của tổ chức thanh tra cấp trên trực tiếp.
- Thanh tra Nhà nước quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Thanh tra huyện) và Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Thanh tra tỉnh) là các cơ quan thanh tra chuyên trách, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo quy định của pháp luật.
- Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Thanh tra Sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được thành lập để thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ hoặc Sở.
- Mối quan hệ công tác giữa các tổ chức thanh tra được xác định rõ ràng nhằm bảo đảm tính độc lập tương đối trong hoạt động thanh tra, tránh sự chồng chéo, trùng lặp trong việc thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở, đơn vị.
Thẩm quyền thành lập và quản lý cán bộ thanh tra
- Việc thành lập, sáp nhập hoặc giải thể các tổ chức thanh tra ở các cấp, các ngành phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Pháp lệnh Thanh tra và hướng dẫn của Thanh tra Nhà nước.
- Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra của tổ chức thanh tra cùng cấp sau khi có sự nhất trí bằng văn bản của Chánh Thanh tra cấp trên trực tiếp.
- Đội ngũ thanh tra viên phải được tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn kỹ lưỡng, bảo đảm tiêu chuẩn đạo đức và năng lực công tác để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ thanh tra được giao.
Thông tư 124-TT-TTr năm 1990 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây về tổ chức bộ máy thanh tra trái với hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ.
| THANH TRA NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 124/TT-TTr | Hà Nội, ngày 18 tháng 7 năm 1990 |
Căn cứ vào Pháp lệnh Thanh tra được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 1 tháng 4 năm 1990 và Nghị định số 244-HĐBT ngày 30 tháng 6 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng, Tổng Thanh tra Nhà nước hướng dẫn về tổ chức của các tổ chức Thanh tra Nhà nước như sau:
1. Những cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước (từ cấp huyện trở lên) đều phải thành lập tổ chức Thanh tra Nhà nước chuyên trách (không sát nhập với tổ chức chuyên môn khác và ngược lại).
- Những cơ quan, đơn vị không có chức năng quản lý Nhà nước thì thủ trưởng có trách nhiệm tổ chức và thực hiện chế độ kiểm tra, thanh tra theo quy định tại điều 10 của Nghị định số 244-HĐBT ngày 30-6-1990 của Hội đồng Bộ trưởng.
2. Quy định bộ máy của các tổ chức thanh tra Nhà nước phải đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức thanh tra Nhà nước quy định trong Pháp lệnh Thanh tra và Nghị định số 244-HĐBT ngày 30-6-1990 của Hội đồng Bộ trưởng, có tính đến đặc điểm cơ cấu kinh tế - xã hội, đặc điểm nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cấp, ngành mình.
3. Bố trí những cán bộ có phẩm chất chính trị tốt, có hiểu biết về quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành đảm bảo chất lượng và số lượng cần thiết để các tổ chức thanh tra Nhà nước thực sự phát huy hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra.
4. Chế độ trách nhiệm, mối quan hệ công tác giữa Chánh thanh tra với các Phó chánh thanh tra thực hiện theo chế độ thủ trưởng.
Căn cứ vào các Điều 13, 14, 15 của Pháp lệnh Thanh tra và Điều 2 của Nghị định số 244-HĐBT ngày 30-6-1990 của Hội đồng Bộ trưởng nay hướng dẫn về tổ chức của thanh tra Bộ như sau:
1. Mỗi Bộ chỉ thành lập một tổ chức thanh tra Bộ bao gồm các hoạt động thanh tra Nhà nước thuộc Bộ; chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng và sự chỉ đạo về công tác, tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra Nhà nước.
- Bộ máy của thanh tra Bộ tuỳ tình hình cụ thể của mỗi Bộ có thể thành lập các phòng hoặc tổ thanh tra theo từng lĩnh vực hoặc thực hiện theo quy chế thủ trưởng trực tiếp với thanh tra viên, chuyên viên.
- Đối với các Bộ quản lý chỉ đạo theo ngành dọc hoặc theo ngành dọc là chủ yếu (như Quốc phòng, Nội vụ, Ngân hàng Nhà nước...) thì tổ chức và mối quan hệ chỉ đạo của Thanh tra Bộ với tổ chức thanh tra của cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước trực thuộc Bộ được quy định trong quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ.
2. Thanh tra Bộ có Chánh thanh tra và các Phó chánh thanh tra, Bộ nào còn hai Phó chánh thanh tra trở lên thì phân công một Phó chánh thanh tra thường trực, trường hợp Thứ trưởng là Chánh thanh tra thì không kiêm nhiệm việc khác. Chánh thanh tra chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng, đồng thời chịu trách nhiệm trực tiếp trước Tổng thanh tra Nhà nước về toàn bộ công tác thanh tra trong phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ.
3. Tổ chức cụ thể của từng Thanh tra Bộ sẽ quy định trong quy chế tổ chức và hoạt động của thanh tra Bộ do Bộ trưởng quyết định sau khi thống nhất với Tổng thanh tra Nhà nước.
Căn cứ vào các Điều 16, 17, 18 của Pháp lệnh Thanh tra và Điều 3 của Nghị định số 244-HĐBT ngày 30-6-1990 của Hội đồng Bộ trưởng, tổ chức Thanh tra tỉnh được quy định như sau:
1. Bộ máy của thanh tra tỉnh gồm các phòng sau đây:
- Phòng thanh tra kinh tế - xã hội: Giúp lãnh đạo Thanh tra tỉnh quản lý Nhà nước và thực hiện quyền thanh tra về kinh tế - xã hội.
- Phòng thanh tra xét khiếu tố: Giúp lãnh đạo Thanh tra tỉnh quản lý Nhà nước và thực hiện quyền thanh tra trong công tác xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Văn phòng - tổng hợp: Giúp lãnh đạo Thanh tra tỉnh theo dõi tổng hợp tình hình hoạt động thanh tra trong tỉnh xây dựng chương trình kế hoạch thanh tra, hướng dẫn, kiểm tra các ngành, các cấp trong tỉnh thực hiện. Quản lý cán bộ thanh tra thuộc thẩm quyền của Chánh thanh tra tỉnh, thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức, xây dựng lực lượng thanh tra, thực hiện chế độ chính sách, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra. Tổ chức việc hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra cho cán bộ thanh tra và thanh tra nhân dân. Quản lý công tác hành chính, quản trị, phục vụ sự điều hành công việc hàng ngày của lãnh đạo Thanh tra tỉnh.
Đối với những tỉnh, thành phố xét thấy thực sự cần thiết về lĩnh vực thanh tra kinh tế - xã hội có thể thành lập 2 hoặc 3 phòng gồm: (Phòng thanh tra kinh tế, phòng thanh tra nội chính - văn xã) hoặc (phòng thanh tra kinh tế - khối sản xuất, phòng thanh tra kinh tế - khối lưu thông, phòng thanh tra nội chính - văn xã).
3. Về biên chế cán bộ của Thanh tra tỉnh hướng dẫn như sau:
- Thanh tra thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh biên chế tối thiểu là: 60 người.
- Thanh tra Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Thừa Thiên - Huế biên chế tối thiểu là: 20 người.
- Thanh tra thuộc các tỉnh, thành phố còn lại biên chế tối thiểu là: 30 người.
1. Căn cứ vào Điều 19 của Pháp lệnh Thanh tra và các Điều 4, 5 của Nghị định số 244-HĐBT ngày 30-6-1990 của Hội đồng Bộ trưởng, Thanh tra sở là tổ chức thanh tra chuyên trách có con dấu riêng (không sát nhập với tổ chức chuyên môn khác và ngược lại).
2. Thanh tra Sở có Chánh thanh tra và một Phó chánh thanh tra, Chánh thanh tra chịu trách nhiệm trực tiếp trước Giám đốc Sở và Chánh thanh tra tỉnh về toàn bộ công tác thanh tra trong phạm vi quản lý Nhà nước của Sở; Phó chánh thanh tra giúp Chánh thanh tra phụ trách một số lĩnh vực công tác; mỗi thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ do Chánh thanh tra hoặc Phó chánh thanh tra trực tiếp giao.
3. Biên chế của Thanh tra sở tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể nhiệm vụ quản lý Nhà nước của mỗi sở để quy định nhưng phải đảm bảo biên chế tối thiểu cần có là 3 người.
Tổ chức và biên chế của Thanh tra Sở do Giám đốc Sở đề nghị, Chánh thanh tra tỉnh trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định.
4. Đối với cơ quan thuộc ngành Quốc phòng, Nội vụ, Ngân hàng Nhà nước v.v... chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ thì tổ chức thanh tra của các cơ quan này thực hiện theo quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Bộ.
1. Căn cứ vào các Điều 20, 21, 22 của Pháp lệnh Thanh tra và Điều 3 của Nghị định số 244-HĐBT ngày 30-6-1990 của Hội đồng Bộ trưởng, mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phải thành lập một tổ chức thanh tra Nhà nước chuyên trách, có con dấu riêng (không sát nhập với tổ chức chuyên môn khác và ngược lại).
2. Thanh tra huyện có Chánh thanh tra và một Phó chánh thanh tra: Chánh thanh tra chịu trách nhiệm trực tiếp trước Uỷ ban nhân dân huyện và Chánh thanh tra tỉnh về toàn bộ công tác thanh tra trong phạm vi quản lý Nhà nước của Uỷ ban nhân dân huyện; Phó Chánh thanh tra giúp Chánh thanh tra phụ trách một lĩnh vực công tác; mỗi thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công trực tiếp của Chánh thanh tra hoặc Phó chánh thanh tra.
3. Về biên chế của Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hướng dẫn như sau:
- Thanh tra huyện, thị xã biên chế tối thiểu là: 5 người.
- Thanh tra quận, thành phố thuộc tỉnh biên chế tối thiểu là: 7 người.
VI. THANH TRA NHÀ NƯỚC Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
Căn cứ vào điều 23 của Pháp lệnh Thanh tra và điều 6 của Nghị định 244-HĐBT ngày 30-6-1990 của Hội đồng Bộ trưởng thì ở xã, phường, thị trấn không hình thành tổ chức thanh tra mà chức năng thanh tra Nhà nước ở đây do Uỷ ban nhân dân cùng cấp đảm nhiệm. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp phụ trách; mỗi uỷ viên Uỷ ban có trách nhiệm thanh tra theo từng lĩnh vực công tác do mình phụ trách.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Chánh thanh tra huyện về toàn bộ công tác thanh tra trong phạm vi quản lý Nhà nước của địa phương mình.
Căn cứ vào Thông tư này, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc xây dựng, kiện toàn tổ chức và cán bộ thanh tra bảo đảm điều kiện cần thiết, để các tổ chức thanh tra hoàn thành nhiệm vụ, góp phần thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mỗi cấp, mỗi ngành.
Trong quá trình thực hiện có vấn đề gì vướng mắc đề nghị trao đổi với Thanh tra Nhà nước để sửa đổi, bổ sung.
| Nguyễn Kỳ Cẩm (Đã ký) |