Thông tư 1326-HCTP được Bộ Tư pháp ban hành ngày 27 tháng 11 năm 1956 nhằm hướng dẫn thi hành Điều lệ đăng ký hộ tịch mới, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc thống nhất và chính quy hóa công tác quản lý hộ tịch tại miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ hòa bình lập lại. Văn bản này hướng dẫn chi tiết các cơ quan hành chính địa phương và người dân thực hiện việc đăng ký các sự kiện hộ tịch cơ bản như sinh, tử, kết hôn và các thay đổi hộ tịch khác.
Phạm vi áp dụng của Thông tư trải rộng trên toàn bộ lãnh thổ miền Bắc, áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Đối tượng chịu trách nhiệm thi hành trực tiếp bao gồm Ủy ban hành chính các cấp (đặc biệt là cấp xã, thị xã, khu phố) và các cán bộ tư pháp, hộ tịch trực tiếp làm công tác đăng ký.
Mục đích và ý nghĩa của việc đăng ký hộ tịch mớiThông tư nhấn mạnh việc đăng ký hộ tịch không chỉ là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân nhằm bảo đảm các quyền dân sự hợp pháp, mà còn là cơ sở dữ liệu quan trọng để Nhà nước xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ trật tự an ninh công cộng. Việc thống nhất các quy định hộ tịch giúp xóa bỏ các tàn dư quản lý lỏng lẻo thời kỳ trước và thiết lập một hệ thống quản lý hành chính chặt chẽ, thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Nguyên tắc tổ chức và thẩm quyền đăng ký hộ tịch (Điều 1 và Điều 2)- Cơ quan có thẩm quyền: Ủy ban hành chính cấp xã (ở nông thôn) và Ủy ban hành chính khu phố hoặc thị xã (ở thành thị) là cơ quan trực tiếp có thẩm quyền tiếp nhận, kiểm tra và thực hiện việc đăng ký hộ tịch cho công dân cư trú trên địa bàn.
- Phân định địa giới hành chính trong đăng ký: Việc đăng ký phải được thực hiện tại nơi cư trú thường xuyên hoặc nơi tạm trú của công dân. Đối với các trường hợp đặc biệt như sinh đẻ hoặc tử vong xảy ra trên đường đi, tại bệnh viện ngoài địa phương cư trú, Thông tư quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các địa phương để tránh trùng lặp hoặc bỏ sót thông tin.
- Vai trò của cán bộ hộ tịch: Cán bộ hộ tịch là người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, có trách nhiệm hướng dẫn tận tình, giải thích pháp luật và thực hiện các thủ tục một cách nhanh chóng, nghiêm túc, không được gây phiền hà, sách nhiễu cho người dân.
- Tính bắt buộc của việc khai báo: Mọi sự kiện hộ tịch phát sinh (sinh, tử, kết hôn) đều bắt buộc phải khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn luật định.
- Thời hạn khai báo cụ thể: Thông tư quy định thời hạn nghiêm ngặt đối với từng loại sự kiện. Việc khai sinh phải được thực hiện trong vòng một thời hạn ngắn sau khi trẻ em ra đời; việc khai tử phải được thực hiện ngay sau khi có người qua đời để đảm bảo tính xác thực của thông tin và phục vụ công tác vệ sinh phòng dịch, quản lý nhân khẩu.
- Người có nghĩa vụ khai báo: Quy định rõ thứ tự ưu tiên của những người có trách nhiệm đi khai báo (cha, mẹ, người thân thích trong gia đình, hoặc người chủ hộ, người chứng kiến) nhằm đảm bảo không có sự kiện hộ tịch nào bị bỏ qua do thiếu người chịu trách nhiệm.
- Thống nhất mẫu sổ hộ tịch: Bộ Tư pháp quy định và phát hành thống nhất các loại mẫu sổ đăng ký hộ tịch (sổ khai sinh, sổ khai tử, sổ kết hôn). Các địa phương không được tự ý thay đổi mẫu sổ hoặc sử dụng các loại giấy tờ không đúng quy chuẩn.
- Nguyên tắc ghi chép sổ sách: Sổ hộ tịch phải được ghi chép rõ ràng, chính xác, bằng mực không phai, không được tẩy xóa, viết đè hoặc để trống. Mọi sửa đổi, bổ sung thông tin hộ tịch phải được thực hiện theo đúng quy trình nghiêm ngặt và phải có sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền.
- Chế độ lưu trữ và bảo mật: Sổ hộ tịch là tài liệu lưu trữ quốc gia có giá trị pháp lý lâu dài. Ủy ban hành chính cấp xã có trách nhiệm bảo quản an toàn, phòng chống cháy nổ, ẩm ướt và không được để thất thoát. Định kỳ, các địa phương phải báo cáo số liệu thống kê hộ tịch lên cơ quan tư pháp cấp trên.
Thông tư 1326-HCTP năm 1956 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây của chính quyền thực dân hoặc các hướng dẫn tạm thời trong thời kỳ kháng chiến trái với Thông tư này đều bị bãi bỏ. Việc triển khai thực hiện Thông tư được chia làm nhiều giai đoạn, bắt đầu thí điểm tại các thành phố lớn và vùng đồng bằng trước khi mở rộng ra toàn miền Bắc.
| BỘ TƯ PHÁP | VIỆT |
| Số: 1326-HCTP | Hà Nội,, ngày 31 tháng 07 năm 1956 |
BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP
| Kính gửi: | - Các toà án nhân dân liên khu, thành phố, tỉnh và sơ thẩm thành phố |
Thủ tướng phủ có ra nghị định số 764-TTg ngày 8 tháng 5 năm 1956 quy định điều lệ đăng ký hộ tịch và Bộ Nội vụ có thông tư số 6-NV-DC-TT ngày25-5-1956 hướng dẫn thi hành điều lệ này.
Theo các văn bản nói trên thì từ nay về sau:
Điều lệ đăng ký hộ tịch mới giao những việc trên này cho Uỷ ban hành chính các cấp phụ trách.
Vậy xin lưu ý các Toà án về những điểm thay đổi trên, đồng thời xin nhắc lại những việc Toà án còn phải làm đối với việc đăng ký hộ tịch sau khi thi hành điều lệ mới.
Trong những việc thay đổi về tình hình hộ tịch nêu ở điều 26 của bản điều lệ đăng ký hộ tịch có những việc sau này thuộc thẩm quyền của toà án.
Nói chung những việc thay đổi về quan hệ cha con, mẹ con một khi có tranh tụng (như là con đẻ hoang xin truy nhận cha hay mẹ đẻ, chồng không thừa nhận con ngoại tình của vợ, truất quyền của cha mẹ nuôi đối với con nuôi, …) Toà án vẫn có trách nhiệm giải quyết.
Sau khi công nhận việc thay đổi nói trên, Toà án gửi một bản sao án văn cho Uỷ ban hành chính nơi người đương sự khai sinh để ghi chú những thay đổi vào bản lưu khai sinh.
Đối với những việc kiện ly hôn, Toà án vẫn giải quyết theo thủ tục áp dụng từ trước cho tới nay. Trường hợp xử ly hôn, Toà án gửi một bản sao án văn cho Uỷ ban hành chính nơi đã đăng ký việc kết hôn để ghi chú việc ly hôn vào bản lưu tờ khai kết hôn.
Theo điều 21 của bản điều lệ đăng ký hộ tịch mỗi khi thi hành xong một bản án xử tử hình Toà án cấp giấy phép mai táng và báo cho Uỷ ban hành chính sở tại để đăng ký việc tử.
Việc mất tích nêu ở điều 27 của bản điều lệ đăng ký hộ tịch là trường hợp những cá nhân đi mất tích, gia đình không nhận được tin tức, không rõ hiện sống hay chết, lâu nay về pháp lý thường gọi là thất tung.
Điều 27 quy định việc mất tích phải được đăng ký vào sổ khai tử. Việc đăng ký này chỉ có mục đích thống kê tình hình trong nhân dân, không có ý nghĩa là đứng về pháp lý xem người mất tích như đã chết để giải quyết quyền dân sự và quyền gia đình của người ấy như đối với người chết. Đối với người mất tích, Toà án vẫn còn trách nhiệm giải quyết theo luật pháp hiện hành. Khi bản án công nhận sự mất tích đã thành nhất định thì Toà án cấp cho thân nhân người ấy một trích lục án để đem xin đăng ký một việc khai tử với Uỷ ban hành chính nơi cư trú cuối cùng của người mất tích hoặc nơi cư trú hiện nay của thân nhân người ấy. Đồng thời Toà án tống đạt bản án cho những nơi cần tống đạt để thi hành án theo thủ tục hiện hành.
5) Xử lý đối với những trường hợp đăng ký quá hạn
Điều 8 của điều lệ đăng ký hộ tịch quy định: “Người có nhiệm vụ xin đăng ký mà để quá hạn không khai, sẽ bị phê bình, và có thể bị phạt vi cảnh”.
Đối với những vụ đăng ký quá hạn, đường lối giải quyết chủ yếu là phê bình để giáo dục. Nhưng đặc biệt đối với những người cố ý chay lười, mà Uỷ ban hành chính địa phương thấy cần áp dụng một hình thức giáo dục cao hơn thì mới phạt vi cảnh. Trong trường hợp này Uỷ ban hành chính địa phương sẽ đề nghị với Toà án xử phạt.
| BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP |