Thông tư 15-BYT/TT được Bộ Y tế ban hành năm 1959 nhằm bổ sung cho Thông tư 16-BYT/TT năm 1957, quy định chi tiết về việc phân loại và xếp các loại thuốc độc vào các bảng danh mục A, B và C nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo quản và sử dụng an toàn các chất độc hại trong ngành y tế.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Văn bản áp dụng đối với tất cả các cơ sở y tế, cơ sở bào chế, sản xuất, kinh doanh dược phẩm, hiệu thuốc và các cán bộ y tế, dược sĩ, nhân viên liên quan đến việc quản lý, pha chế, cấp phát và sử dụng thuốc độc trên toàn quốc.
- Mục đích của việc bổ sung danh mục thuốc độc
- Nhằm hoàn thiện hệ thống pháp lý về quản lý dược phẩm, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sức khỏe của nhân dân trong quá trình điều trị bằng thuốc.
- Kịp thời cập nhật các loại hóa chất, dược chất mới phát sinh hoặc cần thay đổi mức độ kiểm soát so với quy định tại Thông tư 16-BYT/TT năm 1957.
- Thống nhất quy trình phân loại chất độc dựa trên độc tính, liều lượng và mức độ nguy hiểm đối với cơ thể người.
- Quy định phân loại thuốc độc vào các bảng danh mục
- Thuốc độc bảng A (Thuốc độc chết người): Bao gồm các chất cực độc, có khả năng gây tử vong nhanh chóng ngay cả ở liều lượng rất nhỏ. Việc quản lý nhóm này đòi hỏi quy trình nghiêm ngặt nhất về tủ lưu trữ, khóa bảo vệ và sổ sách theo dõi xuất nhập.
- Thuốc độc bảng B (Thuốc độc): Gồm các dược chất có độc tính cao, có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng đến sức khỏe nếu sử dụng sai liều lượng hoặc không có chỉ định của bác sĩ. Nhóm này yêu cầu bảo quản riêng biệt và chỉ được bán hoặc cấp phát theo đơn.
- Thuốc độc bảng C (Thuốc giảm độc hoặc thuốc có điều kiện): Bao gồm các loại thuốc có chứa thành phần độc hại nhưng ở hàm lượng thấp hoặc đã được giảm độc tính, cần được kiểm soát trong quá trình phân phối để tránh lạm dụng.
- Nguyên tắc quản lý, bảo quản và cấp phát thuốc độc
- Bảo quản nghiêm ngặt: Các loại thuốc độc thuộc bảng A và B phải được cất giữ trong tủ riêng, có khóa chắc chắn. Chìa khóa tủ thuốc độc phải do dược sĩ hoặc người chịu trách nhiệm chuyên môn trực tiếp quản lý.
- Nhãn mác rõ ràng: Chai lọ, bao bì đựng thuốc độc phải dán nhãn đúng quy định màu sắc và ký hiệu cảnh báo đặc trưng cho từng bảng để tránh nhầm lẫn trong quá trình sử dụng.
- Sổ sách theo dõi: Mọi hoạt động nhập, xuất, pha chế thuốc độc đều phải được ghi chép chi tiết vào sổ chuyên dụng, ghi rõ ngày tháng, số lượng, họ tên người thực hiện và người nhận.
- Quy định về đơn thuốc: Chỉ được pha chế và cấp phát thuốc độc khi có đơn thuốc hợp lệ của bác sĩ điều trị, tuân thủ nghiêm ngặt liều lượng tối đa quy định.
Hiệu lực thi hành: Thông tư 15-BYT/TT năm 1959 có hiệu lực kể từ ngày ban hành, bổ sung trực tiếp vào các điều khoản của Thông tư 16-BYT/TT năm 1957. Các quy định trước đây trái với thông tư này đều bị bãi bỏ.
| BỘ Y TẾ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ |
| Số: 15-BYT/TT | Hà Nội, ngày 18 tháng 06 năm 1959 |
THÔNG TƯ
VỀ VIỆC BỔ SUNG THÔNG TƯ SỐ 16 NGÀY 17-4-1957 QUY ĐỊNH VỀ VIỆC XẾP CÁC THUỐC ĐỘC VÀO CÁC BẢNG A, B, C
| Kính gửi: | - Uỷ ban Hành chính các khu, thành phố, tỉnh, |
Thông tư số 16 ngày 17-4-1957 của Bộ quy định một số thuốc độc thuộc bảng A, B, C sau khi đã pha chế loãng đến một nồng độ nhất định thì được miễn xếp vào bảng thuốc độc A, B, C.
Tới nay, Bộ nhận thấy cần ghi thêm vào bảng kê kèm theo Thông tư nói trên các dạng thuốc được miễn độc của tinh dầu giun (essence de chénopodium) cho nên bảng C được bổ sung như sau:
Một số thuốc A, B, C sau khi pha chế với liều lượng theo bảng kê sau đây được miễn thuộc về thuốc A, B, C.
Bảng C: Thêm:
| Tên thuốc | Hình thức thuốc | Nồng độ của thuốc đã pha chế tính theo phần 100 | Liều lượng của thuốc đã pha chế theo đơn vị gr |
| Tinh dầu giun essence de chénopodium | Các dạng pha chế để uống | 2,5 | 0,25 và 0,50 |
| BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
Danh sách văn bản liên quan đang được cập nhật.