Thông tư 19/2003/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành ngày 20 tháng 03 năm 2003, hướng dẫn chi tiết việc điều chỉnh tăng, giảm vốn điều lệ và quản lý cổ phiếu quỹ trong các công ty cổ phần. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm chuẩn hóa các hoạt động tài chính liên quan đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cổ đông và bảo đảm sự minh bạch của thị trường tài chính.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với tất cả các công ty cổ phần được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp tại Việt Nam. Các quy định tập trung vào việc điều chỉnh quy mô vốn điều lệ thông qua các hình thức phát hành thêm cổ phiếu, mua lại cổ phiếu, và các nguyên tắc hạch toán, quản lý đối với cổ phiếu quỹ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Quy định về việc tăng vốn điều lệ trong công ty cổ phần
Công ty cổ phần được phép tăng vốn điều lệ trong các trường hợp và phương thức cụ thể sau:
- Phát hành cổ phiếu mới để huy động thêm vốn: Công ty thực hiện chào bán cổ phần mới cho cổ đông hiện hữu hoặc ra công chúng theo quy định của pháp luật. Số vốn điều lệ tăng thêm được xác định bằng tổng mệnh giá của số cổ phần thực tế đã bán được.
- Chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần: Đối với các công ty có phát hành trái phiếu chuyển đổi, khi đến hạn hoặc theo thỏa thuận, trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phần sẽ làm tăng vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá cổ phần được chuyển đổi.
- Trả cổ tức bằng cổ phiếu: Công ty có thể sử dụng lợi nhuận sau thuế chưa phân phối để chia cổ tức cho cổ đông bằng cổ phiếu thay vì tiền mặt, qua đó chuyển nguồn vốn này thành vốn điều lệ.
- Kết chuyển các nguồn vốn chủ sở hữu khác: Cho phép công ty cổ phần chuyển thặng dư vốn cổ phần, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, hoặc các quỹ khác được phép theo quy định của pháp luật thành vốn điều lệ.
Quy định về việc giảm vốn điều lệ trong công ty cổ phần
Việc giảm vốn điều lệ phải tuân thủ các điều kiện nghiêm ngặt để bảo đảm khả năng thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty:
- Hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông: Thực hiện khi công ty hoạt động liên tục trong nhiều năm và có lượng vốn dư thừa so với nhu cầu kinh doanh, đồng thời bảo đảm sau khi hoàn trả vẫn thanh toán đủ các khoản nợ.
- Mua lại và hủy bỏ cổ phần: Công ty tiến hành mua lại cổ phần của cổ đông và thực hiện thủ tục hủy bỏ số cổ phần này, dẫn đến giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá cổ phần bị hủy.
- Xử lý giảm vốn do thua lỗ kéo dài: Trong trường hợp công ty bị thua lỗ lũy kế lớn, không có khả năng phục hồi và cần cơ cấu lại tài chính, đại hội đồng cổ đông có thể quyết định giảm vốn điều lệ để bù đắp khoản lỗ.
Quy chế quản lý cổ phiếu quỹ
Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu do chính công ty phát hành và được mua lại bởi chính công ty đó. Việc quản lý cổ phiếu quỹ được quy định như sau:
- Nguồn vốn mua lại cổ phiếu quỹ: Công ty chỉ được dùng các nguồn vốn hợp pháp thuộc sở hữu của mình để mua lại cổ phiếu, bao gồm thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối và các quỹ khác theo quy định.
- Hạn chế đối với cổ phiếu quỹ: Số cổ phiếu quỹ do công ty nắm giữ không được tính vào số cổ phiếu đang lưu hành để chia cổ tức, không có quyền biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, và không được quyền ưu tiên mua cổ phiếu mới khi công ty phát hành thêm.
- Tái phân phối hoặc hủy bỏ cổ phiếu quỹ: Công ty có thể bán ra thị trường số cổ phiếu quỹ này để thu hồi vốn hoặc tiến hành hủy bỏ hoàn toàn để giảm vốn điều lệ. Việc bán cổ phiếu quỹ phải tuân thủ các quy định về giao dịch chứng khoán hiện hành.
- Hạch toán kế toán: Giá trị cổ phiếu quỹ được ghi nhận theo giá thực tế mua vào và được trình bày như một khoản giảm trừ vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán, không được ghi nhận là tài sản của công ty.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 19/2003/TT-BTC có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các công ty cổ phần có trách nhiệm thực hiện đúng các hướng dẫn về điều chỉnh vốn và quản lý cổ phiếu quỹ để đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật tài chính hiện hành.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 19/2003/TT-BTC | Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2003 |
Căn cứ Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật;
Căn cứ các văn bản pháp qui của Nhà nước quy định về giao dịch chứng khoán và thị trường chứng khoán;
Bộ Tài chính hướng dẫn một số vấn đề về tài chính trong việc điều chỉnh tăng, giảm vốn điều lệ và quản lý (mua, bán, sử dụng) cổ phiếu quỹ trong công ty cổ phần như sau:
1. Đối tượng áp dụng Thông tư này là các công ty cổ phần thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Đối với các tổ chức tài chính, tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán hoạt động theo hình thức công ty cổ phần thì việc điều chỉnh tăng, giảm vốn điều lệ và mua, bán sử dụng cổ phiếu quỹ thực hiện theo quy định các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành.
2. Trong Thông tư này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
a. Vốn của các cổ đông tại một thời điểm: Được xác định bằng nguồn vốn chủ sở hữu trừ số dư quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và vốn nhận liên doanh tại thời điểm đó;
b. Cổ phiếu quỹ: Là cổ phiếu của chính công ty đã phát hành và được công ty mua lại bằng nguồn vốn hợp pháp theo quy định của Thông tư này.
c. Người quản lý doanh nghiệp: Là những đối tượng được quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật Doanh nghiệp.
d. Trái phiếu chuyển đổi thành cổ phần: Là trái phiếu do công ty phát hành được chuyển thành vốn góp cổ phần trong công ty theo các điều kiện và thời gian quy định trong phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
đ. Trả cổ tức bằng cổ phiếu: Là việc công ty cổ phần sử dụng nguồn lợi nhuận sau thuế được tích luỹ (bao hàm cả nguồn ưu đãi miễn, giảm thuế của nhà nước) để bổ sung tăng vốn điều lệ, đồng thời tăng thêm cổ phần cho các cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của từng cổ đông trong doanh nghiệp.
3. Các hoạt động mua, bán cổ phiếu quỹ, phát hành cổ phiếu mới để huy động vốn đều không phải là hoạt động kinh doanh tài chính của công ty cổ phần. Các khoản chênh lệch tăng do mua, bán cổ phiếu quỹ, chênh lệch do giá phát hành thêm cổ phiếu mới lớn hơn so với mệnh giá phải được hạch toán vào tài khoản thặng dư vốn, không hạch toán vào thu nhập tài chính của doanh nghiệp. Không tính thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng đối với các khoản thặng dư này.
Trường hợp giá bán cổ phiếu quỹ nhỏ hơn giá mua vào, giá bán cổ phiếu mới phát hành thêm thấp hơn mệnh giá thì phần chênh lệch giảm này không được hạch toán vào chi phí, không được dùng lợi nhuận trước thuế để bù đắp mà phải dùng vốn thặng dư để bù đắp, trường hợp nguồn vốn thặng dư không đủ thì phải dùng nguồn lợi nhuận sau thuế và các quỹ của công ty để bù đắp.
II- ĐIỀU CHỈNH TĂNG, GIẢM VỐN ĐIỀU LỆ
Tăng, giảm vốn Điều lệ phải tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành. Trước khi thực hiện điều chỉnh tăng, giảm vốn điều lệ, các công ty cổ phần phải thực hiện quyết toán thuế và kiểm toán báo cáo tài chính theo quy định hiện hành của Nhà nước. Hội đồng quản trị xây dựng phương án điều chỉnh tăng, giảm vốn điều lệ để trình Đại hội đồng cổ đông phê duyệt theo các quy định dưới đây:
A. ĐIỀU CHỈNH TĂNG VỐN ĐIỀU LỆ:
1. Vốn Điều lệ của công ty cổ phần được điều chỉnh tăng trong các trường hợp sau:
a. Phát hành cổ phiếu mới để huy động thêm vốn theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp cơ cấu lại nợ của doanh nghiệp theo hình thức chuyển nợ thành vốn góp cổ phần theo thoả thuận giữa doanh nghiệp và các chủ nợ.
b. Chuyển đổi trái phiếu đã phát hành thành cổ phần: Việc tăng vốn điều lệ chỉ được thực hiện khi đã đảm bảo đủ các điều kiện để trái phiếu chuyển đổi thành cổ phần theo quy định của pháp luật và phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi.
c. Thực hiện trả cổ tức bằng cổ phiếu.
d. Phát hành cổ phiếu mới để thực hiện sáp nhập một bộ phận hoặc toàn bộ doanh nghiệp khác vào công ty.
đ. Kết chuyển nguồn thặng dư vốn để bổ sung tăng vốn điều lệ.
2. Việc kết chuyển thặng dư vốn để bổ sung vốn điều lệ của công ty cổ phần (theo quy định tại tiết đ điểm 1 mục A phần II) phải tuân thủ các điều kiện sau:
a. Đối với khoản chênh lệch tăng giữa giá bán và giá vốn mua vào của cổ phiếu quỹ, công ty được sử dụng toàn bộ chênh lệch để tăng vốn điều lệ. Trường hợp chưa bán hết cổ phiếu quỹ thì công ty chỉ được sử dụng phần chênh lệch tăng giữa nguồn thặng dư vốn so với tổng giá vốn cổ phiếu quỹ chưa bán để bổ sung tăng vốn điều lệ. Nếu tổng giá vốn cổ phiếu quỹ chưa bán bằng hoặc lớn hơn nguồn thặng dư vốn thì công ty chưa được điều chỉnh tăng vốn điều lệ bằng nguồn vốn này.
b. Đối với khoản chênh lệch giữa giá bán với mệnh giá cổ phiếu được phát hành để thực hiện các dự án đầu tư thì công ty cổ phần chỉ được sử dụng để bổ sung vốn điều lệ sau 3 năm kể từ khi dự án đầu tư đã hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng.
Đối với khoản chênh lệch giữa giá bán với mệnh giá cổ phiếu được phát hành để cơ cấu lại nợ, bổ sung vốn kinh doanh thì công ty cổ phần chỉ được sử dụng để bổ sung tăng vốn điều lệ sau 1 năm kể từ thời điểm kết thúc đợt phát hành.
c. Những nguồn thặng dư nêu tại tiết a, b điểm 2 được chia cho các cổ đông dưới hình thức cổ phiếu theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của từng cổ đông.
3. Số lượng cổ phần dự kiến phát hành thêm trong trường hợp quy định tại tiết c và tiết đ điểm 1 mục A phần II của Thông tư này được xác định theo công thức:
|
|
| Nguồn vốn dự kiến dùng để tăng vốn điều lệ |
4. Công ty không được sử dụng các khoản chênh lệch giá từ việc tự đánh giá lại tài sản (khi không có chủ trương của nhà nước) để tăng vốn điều lệ.
B. ĐIỀU CHỈNH GIẢM VỐN ĐIỀU LỆ:
Vốn Điều lệ của công ty cổ phần được điều chỉnh giảm trong các trường hợp sau:
1. Giảm vốn điều lệ khi nhu cầu về vốn của công ty giảm do công ty thay đổi ngành nghề kinh doanh, tổ chức lại với quy mô nhỏ hơn trước hoặc bị buộc phải huỷ bỏ cổ phiếu quỹ.
Việc điều chỉnh giảm vốn điều lệ và thanh toán tiền cho các cổ đông thực hiện theo các hình thức sau:
a. Công ty mua và huỷ bỏ một số lượng cổ phiếu quỹ có mệnh giá tương ứng với số vốn dự kiến được điều chỉnh giảm theo phương án được Đại hội đồng cổ đông biểu quyết thông qua hoặc huỷ bỏ số lượng cổ phiếu quỹ buộc phải huỷ. Theo hình thức này thì công ty không phải trả lại tiền cho các cổ đông.
b. Công ty thu hồi và huỷ bỏ một số cổ phiếu của các cổ đông với tổng mệnh giá tương ứng với số vốn điều lệ giảm. Theo hình thức này thì:
- Mỗi cổ đông trong công ty bị thu hồi một số lượng cổ phần theo tỷ lệ giữa số vốn dự kiến được điều chỉnh giảm với tổng mức vốn điều lệ của công ty tại thời điểm trước khi điều chỉnh.
|
|
| Số lượng cổ phần cổ |
| Số vốn dự kiến giảm |
- Công ty phải trả cho các cổ đông một khoản tiền tính theo công thức sau:
Số tiền phải trả cho từng cổ đông (=) Số lượng cổ phần thu hồi của từng cổ đông (X) Mệnh giá cổ phần.
c. Điều chỉnh giảm mệnh giá cổ phần mà không làm thay đổi số lượng cổ phần. Theo hình thức này, công ty thu hồi cổ phiếu của các cổ đông và phát lại cổ phiếu mới với mệnh giá đã được điều chỉnh giảm. Công ty phải trả cho các cổ đông một khoản tiền theo công thức sau:
Số tiền phải trả cho từng cổ đông (=) Số lượng cổ phần của từng cổ đông (X) Chênh lệch giữa mệnh giá cũ và mệnh giá mới.
d. Hình thức kết hợp:
Căn cứ vào tình hình cụ thể, công ty cổ phần có thể kết hợp áp dụng các hình thức nêu trên để thực hiện điều chỉnh giảm vốn điều lệ.
2. Giảm vốn điều lệ khi công ty kinh doanh thua lỗ 3 năm liên tiếp và có số lỗ luỹ kế bằng 50% vốn của các cổ đông trở lên nhưng chưa mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Hình thức giảm vốn điều lệ thực hiện theo quy định tại tiết b hoặc tiết c điểm 1 mục B phần II Thông tư này, công ty cổ phần không thanh toán lại tiền cho cổ đông.
1. Công ty cổ phần được mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần loại khác đã bán như quy định tại Điều 65 Luật Doanh nghiệp. Công ty cổ phần chỉ được sử dụng nguồn vốn của các cổ đông để mua cổ phiếu quỹ trong các trường hợp sau:
a. Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông, theo quy định tại Điều 64 Luật Doanh nghiệp.
b. Mua lại cổ phần để tạm thời giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành, tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên một cổ phần và tăng tích luỹ vốn của doanh nghiệp.
c. Mua lại cổ phần để bán cho người lao động (kể cả ban quản lý doanh nghiệp) theo giá ưu đãi hoặc thưởng cho người lao động bằng cổ phiếu theo nghị quyết của đại hội cổ đông.
Việc dùng cổ phiếu quỹ làm cổ phiếu thưởng phải đảm bảo có nguồn thanh toán từ quỹ phúc lợi, khen thưởng.
Giá bán cổ phiếu quỹ cho người lao động được thực hiện theo mức thấp hơn giá thị trường tại thời điểm bán, nhưng phải đảm bảo không thấp hơn giá mua vào của cổ phiếu quỹ.
d. Mua lại cổ phần để điều chỉnh giảm vốn điều lệ theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.
đ. Mua lại cổ phần để sử dụng cho các mục đích khác nhưng việc sử dụng phải phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp, Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty và Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.
2. Điều kiện để thực hiện phương án mua cổ phiếu quỹ:
a. Công ty có phương án được Đại hội đồng cổ đông thông qua đối với trường hợp mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã phát hành; hoặc được Hội đồng quản trị phê duyệt đối với trường hợp mua dưới 10% tổng số cổ phần đã phát hành.
b. Công ty có khả năng tài chính đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ về tài chính của doanh nghiệp.
3. Công ty cổ phần không được phép mua cổ phiếu quỹ trong các trường hợp sau:
a. Công ty đang kinh doanh thua lỗ.
b.Công ty đang làm thủ tục phát hành chứng khoán để huy động thêm vốn.
c. Công ty có nợ phải trả quá hạn.
d. Tổng số nợ phải thu quá hạn lớn hơn 10% tổng số vốn của các cổ đông.
đ. Công ty cổ phần chưa hội đủ yêu cầu về tăng vốn điều lệ, vốn pháp định theo quy định của pháp luật hiện hành.
e. Dùng nguồn vốn vay và vốn chiếm dụng từ các tổ chức tài chính, tín dụng, pháp nhân và cá nhân để mua cổ phiếu quỹ.
4. Công ty không được mua cổ phần của các đối tượng sau để làm cổ phiếu quỹ:
a. Người quản lý doanh nghiệp và các đối tượng là vợ, chồng, bố, bố nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh chị em ruột của người quản lý doanh nghiệp (trừ các trường hợp được mua lại theo quy định tại Điều 64 của Luật Doanh nghiệp).
b. Người sở hữu cổ phần chuyển nhượng có điều kiện theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.
c. Cổ đông có cổ phần chi phối, trừ trường hợp doanh nghiệp được phép mua lại cổ phần của nhà nước.
5. Công ty cổ phần tự quyết định việc bán cổ phiếu quỹ theo quy định của pháp luật hiện hành.
Trường hợp cổ phiếu quỹ đã mua vào, nhưng sau 3 năm công ty không sử dụng và vốn của các cổ đông ở tình trạng nhỏ hơn vốn điều lệ thì công ty cổ phần phải huỷ bỏ cổ phiếu quỹ, đồng thời giảm vốn điều lệ của công ty.
6. Việc mua, bán cổ phiếu quỹ đối với các công ty cổ phần đã đăng ký niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán còn phải tuân thủ các thủ tục được quy định tại các văn bản pháp luật về giao dịch chứng khoán.
7. Quản lý và hạch toán cổ phiếu quỹ:
a. Cổ phiếu quỹ thuộc sở hữu chung của công ty và được loại trừ không chia cổ tức cho cổ phiếu quỹ (cổ tức bằng tiền mặt và cổ tức bằng cổ phiếu).
b. Trị giá cổ phiếu quỹ trên Bảng cân đối kế toán được thể hiện là sự giảm bớt vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kinh doanh.
c. Chi phí cho việc mua, bán cổ phiếu quỹ được hạch toán như sau:
- Chi phí mua: Hạch toán vào giá vốn cổ phiếu quỹ.
- Chi phí bán: Hạch toán giảm trừ vào số tiền thu được do bán cổ phiếu quỹ.
d. Đại hội đồng cổ đông quyết định việc duy trì, sử dụng hoặc huỷ bỏ cổ phiếu quỹ, đồng thời thực hiện điều chỉnh giảm vốn điều lệ tương ứng với số lượng cổ phiếu quỹ bị huỷ bỏ.
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung.
| Lê Thị Băng Tâm (Đã ký) |