Thông tư 196-TBXH-1982 được Bộ Thương binh và Xã hội ban hành năm 1982 nhằm bổ sung cho Thông tư số 2-TBXH-1982 về việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế hành chính trong ngành Thương binh và Xã hội.
Văn bản hướng dẫn áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp trực thuộc Bộ Thương binh và Xã hội, nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế.
Mục đích và nguyên tắc bổ sung tinh giản biên chế
- Bổ sung và làm rõ các quy định tại Thông tư số 2-TBXH-1982 nhằm bảo đảm việc tinh giản biên chế hành chính được thực hiện thống nhất, đúng đối tượng và đạt hiệu quả cao.
- Kiện toàn bộ máy quản lý, nâng cao hiệu suất công tác của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức trong toàn ngành.
- Đảm bảo giải quyết chế độ, chính sách thỏa đáng, đúng quy định pháp luật cho các đối tượng thuộc diện tinh giản biên chế.
Nội dung bổ sung trọng tâm (Từ Điều 1 đến Điều 4)
- Xác định đối tượng tinh giản: Hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn, điều kiện để đưa vào diện tinh giản biên chế đối với cán bộ, công nhân viên chức không đủ sức khỏe, năng lực yếu kém hoặc dôi dư do sắp xếp lại tổ chức.
- Quy trình thực hiện: Quy định các bước rà soát, đánh giá và lập danh sách nhân sự thuộc diện tinh giản tại các đơn vị cơ sở, bảo đảm tính công khai, dân chủ và khách quan.
- Chế độ chính sách hỗ trợ: Bổ sung các hướng dẫn về trợ cấp, chế độ thôi việc, chuyển ngành hoặc nghỉ hưu trước tuổi đối với từng nhóm đối tượng cụ thể theo quy định chung của Nhà nước.
- Trách nhiệm thi hành: Phân công nhiệm vụ cho thủ trưởng các đơn vị trực thuộc trong việc tổ chức triển khai, kiểm tra và báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Thương binh và Xã hội.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 196-TBXH-1982 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành năm 1982, các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bị bãi bỏ. Các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các nội dung bổ sung nêu trên.
| BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 196-TBXH | Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 1982 |
Bộ Thương binh và xã hội đã ra Thông tư số 2-TBXH ngày 22-2-1982 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 16-HĐBT ngày 8 - 2- 1982 của Hội đồng Bộ trưởng về tinh giản biên chế hành chính. Nay nói rõ thêm như sau:
Chế độ trợ cấp mất sức lao động dài hạn nói tại điểm 3, và chế độ trợ cấp hưu trí nói tại điểm 4, mục III của Nghị quyết số 16-HĐBT được áp dụng chung cho công nhân, viên chức Nhà nước kể cả công nhân quốc phòng (không phân biệt đơn vị sản xuất hay hành chính sự nghiệp) có đủ điều kiện về thời gian công tác như đã nói tại điểm 1 và điểm 2 của Thông tư số 2-TBXH.
Đối với quân dân thì không áp dụng Nghị quyết số 16-HĐBT, chờ Bộ Quốc phòng sẽ có Thông tư hướng dẫn thi hành Điều 42 của Luật về sĩ quan quân đội.
Quân nhân chuyển ngành hoặc phục viên sau được tuyển vào cơ quan, xí nghiệp Nhà nước thì thời gian tham gia quân đội được coi là thời gian làm nghề nặng nhọc và được cộng với thời gian làm nghề nặng nhọc, độc hại ở cơ quan, xí nghiệp Nhà nước để hưởng trợ cấp hưu trí (nếu có đủ 20 năm).
Trường hợp đang làm nghề nặng nhọc, độc hại được cử đi học bổ túc tay nghề, trong thời gian đi học vẫn trực tiếp lao động nặng nhọc, độc hại thì thời gian đi học đó cũng được tính là thời gian làm nghề nặng nhọc, độc hại.
Nghị quyết số 16-HĐBT nhằm thực hiện tinh giản biên chế quản lý hành chính Nhà nước, do đó chỉ những người thuộc diện dôi ra ở cơ quan quản lý hành chính Nhà nước và các cơ quan tổng Công ty, liên hiệp các xí nghiệp mới được miễn ra hội đồng giám định y khoa. Còn những người thuộc đơn vị sản xuất vật chất (kể cả những người làm gián tiếp), đơn vị sự nghiệp vẫn phải qua hội đồng giám định y khoa khám sức khỏe theo quy định hiện hành.
Để chấp hành nghiêm chỉnh Nghị quyết số 16-HĐBT, tránh việc giải quyết cho về hưu, mất sức lao động tràn lan không đúng đối tượng, yêu cầu các đơn vị thuộc cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan tổng công ty và cơ quan liên hiệp các xí nghiệp báo cáo cho Ty, Sở thương binh và xã hội địa phương (nơi cơ quan đóng) danh sách số người thuộc diện dôi ra sẽ cho về hưu, nghỉ việc hưởng trợ cấp mất sức lao động dài hạn trong dịp giảm nhẹ biên chế. Các Ty, Sở thương binh và xã hội khi xét duyệt cấp sổ trợ cấp phải biết trường hợp nào được miễn ra hội đồng giám định y khoa, trường hợp nào phải có biên bản giám định y khoa mới cấp sổ trợ cấp; đồng thời có kế hoạch bố trí cán bộ phục vụ việc giải quyết cho người về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động được nhanh chóng.
Các đơn vị thuộc các cơ quan nói trên, chưa có danh sách những người thuộc diện dôi ra gửi cho các Ty, Sở thương binh và xã hội thì thủ tục lập hồ sơ vẫn theo quy định hiện hành (nếu chưa đến tuổi quy định vẫn phải qua hội đồng giám định y khoa khám sức khỏe).
Những người có đủ 15 năm công tác liên tục nghỉ việc hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động thì khi lập hồ sơ trợ cấp, ty, sở cho đóng dấu trợ cấp mất sức lao động dài hạn.
| Nguyễn Kiện (Đã ký) |