Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Thông tư 2089-P/4 năm 1946 do Bộ Tư pháp ban hành là một văn bản pháp lý lịch sử quan trọng trong những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhằm mục đích bảo đảm quyền tự do cá nhân của công dân, ngăn chặn các hành vi bắt bớ, giam giữ trái pháp luật. Văn bản này hướng dẫn chi tiết việc thi hành các quy định về bảo vệ quyền tự do cá nhân, xác định rõ thẩm quyền và thủ tục tố tụng hình sự liên quan đến việc hạn chế quyền tự do của công dân.

Phạm vi và đối tượng áp dụng của Thông tư

Thông tư áp dụng đối với toàn bộ hệ thống cơ quan tư pháp, tòa án, cơ quan công an, tự vệ, các cấp chính quyền địa phương và mọi công dân trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Văn bản điều chỉnh trực tiếp các hoạt động liên quan đến việc bắt giữ, giam cứu, khám xét nhà ở và các biện pháp cưỡng chế ảnh hưởng đến tự do thân thể của cá nhân.

Nguyên tắc tối thượng về bảo đảm tự do cá nhân

  • Quyền tự do thân thể của công dân là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, được bảo hộ bởi pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  • Mọi hành vi bắt giữ, giam cầm hoặc hạn chế tự do của công dân nếu không có lệnh của cơ quan tư pháp có thẩm quyền đều bị coi là phạm pháp và bị xử lý nghiêm khắc.
  • Các cơ quan hành chính, quân sự hoặc đoàn thể không có thẩm quyền tư pháp tuyệt đối không được tự ý bắt giữ người trái phép.

Thủ tục và thẩm quyền bắt giữ, giam cứu

  • Việc bắt người chỉ được thực hiện khi có lệnh viết bằng văn bản (trát) của Thẩm phán hoặc cơ quan tư pháp có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật tố tụng.
  • Trường hợp bắt quả tang (phạm pháp quả tang) thì bất kỳ ai cũng có quyền bắt giữ nhưng phải áp giải ngay đến cơ quan công an hoặc nhà chức trách có thẩm quyền gần nhất để giải quyết.
  • Lệnh bắt giữ phải ghi rõ lý do, họ tên người bị bắt và phải được tống đạt trực tiếp cho người bị bắt tại thời điểm thực hiện lệnh.

Quy định nghiêm ngặt về thời hạn tạm giữ và giam cứu

  • Thời hạn tạm giữ hành chính hoặc tạm giữ để điều tra ban đầu phải được khống chế nghiêm ngặt, không được kéo dài vô thời hạn.
  • Trong thời hạn luật định, cơ quan bắt giữ phải tiến hành lấy lời khai và chuyển hồ sơ cùng người bị bắt sang cho Thẩm phán hoặc Viện kiểm sát quyết định việc thả tự do hoặc ra lệnh giam cứu chính thức.
  • Nghiêm cấm việc giam giữ người quá thời hạn quy định mà không có lệnh gia hạn hợp pháp của cơ quan tư pháp.

Thủ tục khám xét nhà ở và tài sản

  • Việc khám xét chỗ ở của công dân chỉ được tiến hành trong những trường hợp pháp luật cho phép và phải có lệnh bằng văn bản của Thẩm phán.
  • Khi tiến hành khám xét, phải có sự chứng kiến của chủ nhà hoặc người đại diện gia đình và đại diện chính quyền địa phương (như Ủy ban hành chính địa phương).
  • Mọi biên bản khám xét phải được lập tại chỗ, ghi chép đầy đủ các đồ vật bị thu giữ và có chữ ký của các bên liên quan.

Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm tự do cá nhân

  • Những cán bộ, nhân viên nhà nước hoặc cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bắt, giam giữ người trái phép hoặc tra tấn, nhục hình sẽ bị truy tố trước pháp luật và chịu các hình phạt nghiêm khắc.
  • Các Thẩm phán và nhân viên tư pháp có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra các nhà giam, trại tạm giam để kịp thời phát hiện và giải quyết các trường hợp giam giữ không đúng thủ tục hoặc quá hạn.

Hiệu lực thi hành

Thông tư 2089-P/4 năm 1946 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Đây là văn bản đặt nền móng quan trọng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật tố tụng hình sự dân chủ, nhân văn của chính quyền cách mạng, khẳng định cam kết bảo vệ quyền con người và quyền công dân ngay trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn sau Cách mạng Tháng Tám.

BỘ TƯ PHÁP
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 2089-P/4

Hà Nội, ngày 26 tháng 06 năm 1946

THÔNG TƯ

Bộ trưởng Bộ Tư pháp gửi các ông Chưởng Lý tòa thượng thẩm Hà Nội, Huế, Sài Gòn

Trong việc thi hành sắc lệnh số 40 ngày 29 tháng 3 năm 1946 về bảo đảm tự do cá nhân, Bản bộ cần phải giải thích thêm để việc thi hành được dễ dàng và đúng với ý định của hội đồng Chính phủ.

A. Đối với những việc đại hình hoặc tiểu hình mà có bị can bị bắt giam trước ngày 29 tháng 3 năm 1946 thì các thời hạn nói trong sắc lệnh (nhất là điều thứ 3 và điều thứ 4) tính bắt đầu từ 2 tháng 4 năm 1946.

Thí dụ có người can làm giấy bạc giả, bị giam cứu từ 20 tháng 2 năm 1946 thì thời hạn 3 tháng nói ở điều thứ 3-2 bắt đầu từ 2 tháng 4 năm 1946 nghĩa là từ ngày mà chiếu theo điều thứ 23 sắc lệnh số 40 được phát thanh chậm cho toàn quốc.

B. Đối với những việc mà có kháng cáo mệnh lệnh của dự thẩm thì yêu cầu phòng luận tội tòa thượng thẩm xử rất nhanh chóng nghĩa là nếu không xử ngay được tại phiên đầu thì nên hoãn đến ngày hôm sau thôi, chứ không nên hoãn lâu hơn.

Việc hoãn lâu có cái hại là nếu bị cáo kháng cáo hai mệnh lệnh của dự thẩm trong một việc tiểu hình thì có thể hết hạn 3 tháng. Nếu hết hạn 3 tháng mà việc chưa dự thẩm xong thì bắt buộc phải tha bị cáo ra, tuy việc rất can hệ.

Vậy yêu cầu các phòng luận tội xử cho chóng các mệnh lệnh của dự thẩm.

C.Các hồ sơ việc tiểu hình ở các tòa đệ nhị cấp mà có người kháng cáo bị giam thì các lục sự phải gửi ngay lên tòa thượng thẩm. Chậm nhất là 30 hôm sau khi xử, hồ sơ phải về đến phòng lục sự tòa thượng thẩm để tòa thượng thẩm có thời giờ đòi các người đương sự ra xử.

D. Câu “trước khi xử” trong điều thứ 3 có nghĩa là trong một việc tiểu hình, thì chậm nhất bị can phải được đưa ra xử 30 ngày sau khi bị bắt.

Thí dụ bị can bị bắt hôm 10 tháng 5 thì hôm 10 tháng 6 phải đem ra xử tại phiên tòa, nếu hôm ấy bị can hoặc luật sư xin hoãn để nại thêm chứng hay vì một lý do gì khác thì tòa án có thể hoãn đến một phiên khác. Tòa án có quyền vẫn giam giữa bị can hoặc cho bị can được tại ngoại.

Ngoài trường hợp thường nói trên đây, nếu có quyết nghị gia hạn giam (điều thứ tư) thì nếu là việc tiểu hình mà gia hạn một lần thì bị can phải được đưa ra tòa để xử chậm nhất là 60 ngày sau khi bị bắt.

Nói tóm lại, chữ “xử” nghĩa là ngày mà ông biện lý đưa bị can ra tòa xử chứ không phải là ngày mà tòa phải tuyên án xong (iugement définitif).

E. Hiện trong các sắc lệnh số 13 và 51 tổ chức các tòa án thì không có tòa phá án. Vậy ở các “tòa Tây án cũ” (Hà Nội, Hải Phòng) án phạt thành nhất định đều được thi hành (bắt giam, tịch thu, vân vân).

THỪA LỆNH BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP
THỨ TRƯỞNG





Nguyễn Văn Hưởng

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 2089-P/4 năm 1946 về bảo đảm tự do cá nhân do Bộ Tư Pháp ban hành.

Số hiệu: 2089-P/4
Loại văn bản: Thông tư
Ngày ban hành: 26/06/1946
Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
Người ký: Nguyễn Văn Hưởng
Ngày công báo: 21/09/1946
Số công báo: Số 38
Ngày hiệu lực: 11/07/1946
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Quyền dân sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thông tư 2089-P/4 năm 1946 về bảo đảm tự do c...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký