Thông tư 24-TBXH-1984 được Bộ Thương binh và Xã hội ban hành vào năm 1984 nhằm thống nhất một số chế độ, chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ trên phạm vi cả nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm đồng bộ hóa các quy định về trợ cấp, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ đời sống cho các đối tượng có công với cách mạng, khắc phục những điểm thiếu thống nhất giữa các địa phương trong giai đoạn trước đó.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư áp dụng thống nhất đối với các đối tượng chính sách trên toàn quốc, bao gồm:
- Thương binh các hạng và người hưởng chính sách như thương binh.
- Bệnh binh các hạng đã xuất ngũ hoặc chuyển ngành do mất sức lao động.
- Thân nhân của liệt sĩ, bao gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ.
- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang và chính quyền địa phương có trách nhiệm quản lý và thực hiện chính sách ưu đãi người có công.
Các nội dung chính sách cốt lõi được thống nhất
1. Thống nhất chế độ trợ cấp và phụ cấp hàng tháng
- Quy định chi tiết và thống nhất mức trợ cấp hàng tháng đối với từng hạng thương binh, bệnh binh dựa trên tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật hoặc bệnh tật gây ra.
- Thống nhất chế độ phụ cấp đặc biệt dành cho thương binh, bệnh binh nặng (hạng đặc biệt) cần có người phục vụ tại gia đình hoặc đang điều trị tập trung tại các trung tâm điều dưỡng thương binh.
- Quy định cụ thể về trợ cấp tiền tuất hàng tháng cho thân nhân liệt sĩ, đặc biệt ưu tiên các đối tượng là thân nhân chủ yếu không còn khả năng lao động, người già cô đơn không nơi nương tựa hoặc con liệt sĩ còn nhỏ dưới độ tuổi lao động.
2. Chế độ chăm sóc sức khỏe, điều trị và chỉnh hình
- Thương binh, bệnh binh được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí và bố trí giường nằm điều trị tại các cơ sở y tế của Nhà nước.
- Thống nhất niên hạn và tiêu chuẩn cấp phát các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình như xe lăn, xe lắc, chân tay giả, răng giả, kính mắt và máy trợ thính cho thương binh theo chỉ định của Hội đồng giám định y khoa.
- Quy định chế độ an dưỡng, điều dưỡng luân phiên định kỳ hàng năm hoặc hai năm một lần tại các cơ sở điều dưỡng chuyên biệt nhằm phục hồi và nâng cao sức khỏe cho thương binh, bệnh binh.
3. Chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo và giải quyết việc làm
- Ưu tiên sắp xếp, bố trí việc làm phù hợp với tình trạng sức khỏe và trình độ chuyên môn của thương binh, bệnh binh tại các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, nhà máy hoặc các hợp tác xã địa phương.
- Thực hiện chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và ưu tiên cộng điểm tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề đối với thương binh, bệnh binh và con của liệt sĩ, con của thương binh, bệnh binh nặng.
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho thương binh, bệnh binh phát triển thông qua các chính sách ưu đãi về thuế và nguồn nguyên liệu.
4. Hỗ trợ cải thiện nhà ở và đời sống sinh hoạt
- Chính quyền địa phương có trách nhiệm rà soát, hỗ trợ giao đất ở, cấp nhà ở hoặc hỗ trợ kinh phí, vật liệu xây dựng để sửa chữa, xây dựng nhà tình nghĩa cho các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh gặp khó khăn về chỗ ở.
- Thống nhất các khoản trợ cấp khó khăn đột xuất đối với gia đình chính sách khi gặp thiên tai, hỏa hoạn hoặc đau ốm nghiêm trọng kéo dài.
5. Quy trình quản lý hồ sơ và tổ chức thực hiện
- Thống nhất quy trình lập hồ sơ, thẩm định, xét duyệt và di chuyển hồ sơ hưởng chế độ khi thương binh, bệnh binh thay đổi nơi cư trú hoặc nơi công tác để đảm bảo quyền lợi không bị gián đoạn.
- Quy định rõ trách nhiệm của Sở Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trong việc quản lý đối tượng, thực hiện chi trả trợ cấp đầy đủ, kịp thời và đúng kỳ hạn.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách tại các địa phương; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi khai man hồ sơ, trục lợi chính sách hoặc thiếu trách nhiệm gây phiền hà cho người có công.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 24-TBXH-1984 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây của Bộ Thương binh và Xã hội cũng như của các địa phương trái với nội dung của Thông tư này đều bãi bỏ. Việc ban hành Thông tư này đã góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách, đồng thời thể hiện sâu sắc truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.
| BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 24-TBXH | Hà Nội, ngày 19 tháng 3 năm 1984 |
Sau khi đã thoả thuận với các Bộ Quốc phòng, Lao động, Tài chính và được thường vụ Hội đồng Bộ trưởng đồng ý, Bộ Thương binh và xã hội quy định về việc thống nhất một số chế độ đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ như sau.
1. Đối với thương binh và người hưởng chính sách như thương binh:
a) Thương binh và người hưởng chính sách như thương binh trong các thời kỳ kháng chiến và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khi về hưu thì ngoài trợ cấp hưu trí, hàng tháng vẫn được hưởng trợ cấp thương tật như khi đang công tác.
b) Thương binh thời kỳ chống Pháp có hành động dũng cảm mà bị thương được hưởng trợ cấp ưu đãi như thương binh thời kỳ chống Mỹ có hành động dũng cảm theo quy định của điều 15, tiết 2, chương II Điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định số 161-CP ngày 30-10-1964 của Hội đồng Chính phủ.
c) Những cán bộ xã không giữ chức vụ chủ chốt (hoặc không thoát ly gia đình nếu ở miền Nam), những dân công, lực lượng vận tải nhân dân và những công dân đã bị thương vì trực tiếp tham gia chiến đấu trong kháng chiến, thì cũng được xác nhận là người hưởng chính sách như thương binh, được trợ cấp thương tật hàng tháng và hưởng các chế độ ưu đãi khác như quy định ở điều 2 quyết định số 301-CP ngày 20-9-1980 của Hội đồng Chính phủ.
d) Dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương trong thời kỳ chống Pháp ở miền Bắc, được hưởng trợ cấp thương tật hàng tháng bằng mức trợ cấp của thương binh thời kỳ chống Pháp có cùng hạng thương tật như quy định ở điểm a, điều 1, Nghị định số 13-CP ngày 2-2-1962 của Hội đồng Chính phủ.
e) Mọi thương binh nặng và người hưởng chính sách như thương binh nặng thuộc diện phải có người phục vụ, về sinh sống ở gia đình, được trợ cấp vì cần người phục vụ là 100 đồng/tháng đối với hạng 8 (tiêu chuẩn 8 hạng), hạng đặc biệt (tiêu chuẩn 6 hạng) và 80 đồng/tháng đối với các hạng 7, 6 (tiêu chuẩn 8 hạng), hạng 1 (tiêu chuẩn 6 hạng).
Bệnh binh thời kỳ chống Pháp bị mất sức lao động từ 60% trở lên đang hưởng trợ cấp theo các Nghị định số 500-NĐ/LB ngày 12-11-1958 và số 523-TTg ngày 6-12-1958, được trợ cấp hàng tháng như mức quy định đối với quân nhân mất sức lao động thời kỳ chống Mỹ theo Quyết định số 21-HĐBT ngày 8-8-1981 của Hội đồng bộ trưởng (hiện nay là 50 đồng/tháng, đã gồm cả phụ cấp tạm thời theo Quyết định số 219-CP ngày 29-5-1981 và được phụ cấp theo Quyết định số 9-HĐBT ngày 19-1-1983, số 60-HĐBT ngày 15-6-1983).
Gia đình các liệt sĩ hy sinh trước cách mạng tháng 8 năm 1945 ở miền Nam, gia đình các liệt sĩ hy sinh trong thời kỳ chống Pháp ở miền Bắc và gia đình các liệt sĩ là cán bộ xã không giữ chức vụ chủ chốt (hoặc không thoát ly gia đình nếu ở miền Nam), là dân công, lực lượng vận tải nhân dân hoặc là công dân hy sinh trong kháng chiến thì nay nếu còn thân nhân chủ yếu có đủ điều kiện cũng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng thống nhất như các gia đình liệt sĩ khác theo quy định hiện hành.
a) Những quy định trong Thông tư này được thi hành từ ngày 1 tháng 4 năm 1984.
b) Kinh phí cho việc thống nhất các chế độ nói trong thông tư này vẫn thực hiện như hiện nay: ngân sách nào đang chi trả cho chế độ nào thì vẫn tiếp tục đài thọ cho chế độ đó.
c) Các Sở thương binh và xã hội cần có kế hoạch khẩn trương giải quyết cho thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ được hưởng đầy đủ và chính xác theo các quy định nói trong thông tư này.
| Song Hào (Đã Ký) |
- 1 Nghị định 161-CP năm 1964 ban hành điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ quân nhân trong khi ốm đau, bị thương, mất sức lao động, về hưu hoặc chết; nữ quân nhân khi có thai và khi đẻ; quân nhân dự bị và dân quân tự vệ ốm đau, bị thương hoặc chết trong khi làm nhiệm vụ quân sự do Hội đồng chính phủ ban hành
- 2 Nghị định 13-CP năm 1962 về việc nâng phụ cấp thương tật cho thương binh và dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật do hội đồng Chính phủ ban hành
- 3 Nghị định 523-TTg năm 1958 về chế độ trợ cấp dài hạn cho quân nhân tình nguyện đã phục viên từ ngày hòa bình lập lại đến nay bị bệnh kinh niên tái phát ốm, yếu không còn khả năng lao động do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành.
- 4 Nghị định 500-NĐ/LB năm 1958 quy định thể lệ trợ cấp dài hạn cho những quân nhân tình nguyện được phục viên vì ốm yếu mà không có khả năng lao động do Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội- Bộ trưởng Bộ Tài chính- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành.
- 5 Quyết định 301-CP năm 1980 bổ sung tiêu chuẩn để xác nhận là liệt sĩ, thương binh và về chính sách đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 6 Quyết định 21-HĐBT năm 1981 bổ sung chế độ hưu trí và nghỉ việc vì mất sức lao động đối với công nhân, viên chức Nhà nước và quân nhân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 7 Quyết định 9-HĐBT năm 1983 về phụ cấp tạm thời cho công nhân, viên chức, quân nhân về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 1 Quyết định 449/1999/QĐ-BLĐTB&XH bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 2 Quyết định 1395/QĐ-LĐTBXH năm 2015 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đến hết ngày 10 tháng 6 năm 2015
- 1 Quyết định 449/1999/QĐ-BLĐTB&XH bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 2 Quyết định 1395/QĐ-LĐTBXH năm 2015 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đến hết ngày 10 tháng 6 năm 2015
- 1 Thông tư 48-TBXH-1985 hướng dẫn Nghị định 236-HĐBT-1985 sửa đổi chế độ, chính sách về thương binh và xã hộ do Bộ Thương binh và xã hội ban hành
- 2 Quyết định 449/1999/QĐ-BLĐTB&XH bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 3 Quyết định 1395/QĐ-LĐTBXH năm 2015 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đến hết ngày 10 tháng 6 năm 2015
- 1 Nghị định 161-CP năm 1964 ban hành điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ quân nhân trong khi ốm đau, bị thương, mất sức lao động, về hưu hoặc chết; nữ quân nhân khi có thai và khi đẻ; quân nhân dự bị và dân quân tự vệ ốm đau, bị thương hoặc chết trong khi làm nhiệm vụ quân sự do Hội đồng chính phủ ban hành
- 2 Nghị định 13-CP năm 1962 về việc nâng phụ cấp thương tật cho thương binh và dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật do hội đồng Chính phủ ban hành
- 3 Nghị định 523-TTg năm 1958 về chế độ trợ cấp dài hạn cho quân nhân tình nguyện đã phục viên từ ngày hòa bình lập lại đến nay bị bệnh kinh niên tái phát ốm, yếu không còn khả năng lao động do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành.
- 4 Nghị định 500-NĐ/LB năm 1958 quy định thể lệ trợ cấp dài hạn cho những quân nhân tình nguyện được phục viên vì ốm yếu mà không có khả năng lao động do Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội- Bộ trưởng Bộ Tài chính- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành.
- 5 Quyết định 301-CP năm 1980 bổ sung tiêu chuẩn để xác nhận là liệt sĩ, thương binh và về chính sách đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 6 Quyết định 21-HĐBT năm 1981 bổ sung chế độ hưu trí và nghỉ việc vì mất sức lao động đối với công nhân, viên chức Nhà nước và quân nhân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 7 Quyết định 9-HĐBT năm 1983 về phụ cấp tạm thời cho công nhân, viên chức, quân nhân về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động do Hội đồng Bộ trưởng ban hành