Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Thông tư 32-BT được ban hành năm 1992 bởi Văn phòng Chính phủ nhằm hướng dẫn chi tiết những việc cần làm để thực hiện nghiêm túc Quy chế làm việc của Chính phủ. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng nhằm cải tiến lề lối làm việc, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, đồng thời tăng cường kỷ cương hành chính trong mối quan hệ công tác giữa Văn phòng Chính phủ với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Phạm vi áp dụng của văn bản bao gồm toàn bộ các hoạt động xây dựng chương trình công tác, chuẩn bị đề án, thẩm tra hồ sơ, tổ chức hội họp và xử lý công việc hàng ngày của Chính phủ. Đối tượng áp dụng trực tiếp là các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức thuộc Văn phòng Chính phủ.

Xây dựng và thực hiện chương trình công tác của Chính phủ (Điều 1)

  • Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chủ động xây dựng và đăng ký chương trình công tác năm, quý, tháng gửi về Văn phòng Chính phủ để tổng hợp.
  • Chương trình công tác phải xác định rõ danh mục các đề án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp và thời hạn trình cụ thể nhằm tránh sự chồng chéo hoặc chậm trễ.
  • Văn phòng Chính phủ có nhiệm vụ thẩm định, cân đối và dự thảo chương trình công tác chung của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ để trình Thủ tướng phê duyệt, bảo đảm tính khả thi và tập trung vào các nhiệm vụ trọng điểm.
  • Việc điều chỉnh, bổ sung hoặc rút bớt các đề án trong chương trình công tác đã được phê duyệt phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng phụ trách khối.

Chuẩn bị các đề án và dự thảo văn bản trình Chính phủ (Điều 2)

  • Cơ quan chủ trì soạn thảo đề án, dự thảo văn bản phải chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung, tính hợp pháp, tính khả thi và kỹ thuật trình bày của văn bản trước Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
  • Trước khi trình Chính phủ, cơ quan soạn thảo bắt buộc phải tổ chức lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành, địa phương có liên quan trực tiếp đến nội dung đề án để tạo sự đồng thuận và hoàn thiện dự thảo.
  • Hồ sơ trình Chính phủ phải đầy đủ các tài liệu theo quy định, bao gồm: tờ trình, dự thảo văn bản chính thức, bản tổng hợp ý kiến giải trình, tiếp thu của các cơ quan liên quan và các tài liệu căn cứ khoa học, thực tiễn khác.
  • Thời hạn gửi hồ sơ dự thảo đến Văn phòng Chính phủ phải bảo đảm đúng quy định để có đủ thời gian nghiên cứu, thẩm tra trước khi đưa ra phiên họp Chính phủ hoặc trình Thủ tướng ký ban hành.

Thẩm tra hồ sơ và quy trình trình ký văn bản (Điều 3)

  • Văn phòng Chính phủ thực hiện chức năng thẩm tra độc lập về mặt thủ tục hành chính, thẩm quyền ban hành, thể thức văn bản và tính thống nhất của nội dung dự thảo với các quy định pháp luật hiện hành.
  • Trường hợp dự thảo chưa đạt yêu cầu hoặc còn nhiều ý kiến khác nhau giữa các Bộ, ngành, Văn phòng Chính phủ có quyền yêu cầu cơ quan soạn thảo giải trình thêm hoặc chủ trì cuộc họp với các bên để thống nhất phương án trước khi trình Thủ tướng.
  • Đối với những vấn đề đã đủ điều kiện, Văn phòng Chính phủ lập phiếu trình, nêu rõ ý kiến thẩm tra, đề xuất phương án giải quyết cụ thể, khách quan để Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng xem xét, quyết định.
  • Quy định rõ thời hạn xử lý hồ sơ tại Văn phòng Chính phủ nhằm tối ưu hóa quy trình giải quyết công việc, tránh tình trạng tồn đọng, chậm trễ gây ảnh hưởng đến công tác điều hành vĩ mô.

Tổ chức các phiên họp của Chính phủ và cuộc họp của Thủ tướng Chính phủ (Điều 4)

  • Xác định rõ quy trình chuẩn bị cho các phiên họp thường kỳ và chuyên đề của Chính phủ, bao gồm việc gửi tài liệu trước cho các thành viên Chính phủ để nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến đóng góp.
  • Thành phần tham dự họp phải đúng đối tượng được mời; trường hợp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan không thể tham dự phải báo cáo xin phép và được sự đồng ý của Thủ tướng, đồng thời cử người có đủ thẩm quyền đi thay để bảo đảm chất lượng cuộc họp.
  • Văn phòng Chính phủ chịu trách nhiệm ghi biên bản, dự thảo nghị quyết phiên họp và thông báo kịp thời ý kiến kết luận, chỉ đạo của Thủ tướng, các Phó Thủ tướng đến các cơ quan, địa phương liên quan để tổ chức thực hiện.
  • Thiết lập cơ chế đôn đốc, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện các quyết nghị, kết luận sau phiên họp để bảo đảm các chỉ đạo của Chính phủ được triển khai nghiêm túc, hiệu quả trong thực tế.

Thông tư 32-BT năm 1992 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định tại văn bản này đã tạo ra khuôn khổ pháp lý hành chính chặt chẽ, giúp chuẩn hóa quy trình phối hợp công tác, giảm thiểu thủ tục rườm rà và nâng cao tính chịu trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước thời kỳ đầu đổi mới.

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 32-BT

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 1992

THÔNG TƯ

CUẢ VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ SỐ 32-BT NGÀY 1-12-1992 VỀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ THỰC HIỆN QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA CHÍNH PHỦ

Căn cứ biên bản phiên họp thứ nhất của Chính phủ ngày 16, 17 tháng 10 năm 1992, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định ban hành bản quy chế làm việc của Chính phủ. Thông tư này nêu lên những việc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần làm để thực hiện bản quy chế:

1. Tổ chức quán triệt trong cán bộ lãnh đạo và cán bộ nhân viên thuộc quyền Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về nội dung của bản quy chế làm việc của Chính phủ. Trên cơ sở đó, liên hệ với thực tế làm việc hiện nay của Bộ, ngành, địa phương chỉ ra những việc cụ thể, thiết thực mà Bộ, ngành, địa phương cần làm để đổi mới, chấn chỉnh cách làm việc theo quy chế Chính phủ đã ban hành. Việc đổi mới, chấn chỉnh cách làm việc theo quy chế mới được tiến hành trong tất cả các khâu công tác; nhưng ở các Bộ, ngành ở Trung ương, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tập trung đổi mới, chấn chỉnh gấp một số khâu hiện đang rất yếu sau đây:

- Chấn chỉnh chế độ giải quyết công việc của Bộ, ngành, Uỷ ban Nhân dân địa phương, khắc phục tình trạng giải quyết không đúng thẩm quyền, tình trạng đùn đẩy công việc thuộc trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương lên Thủ tướng Chính phủ, đùn đẩy công việc giữa các Bộ, ngành, địa phương, giữa các bộ phận trong cơ quan Bộ, ngành, địa phương, vừa làm chậm trễ, vừa tạo sơ hở để phát sinh tiêu cực trong xử lý công việc; loại bỏ những thủ tục và cách làm việc tạo ra sự ngăn cách giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ với các Bộ khác, Uỷ ban Nhân dân, và các đơn vị cơ sở hoặc lãnh đạo Bộ, Uỷ ban Nhân dân sa vào các việc sự vụ mà xem nhẹ các công việc quản lý Nhà nước ở tầm vĩ mô.

- Chấn chỉnh công việc chuẩn bị đề án, văn bản trình Chính phủ, Thủ tướng hoặc các đề nghị giải quyết công việc cụ thể phát sinh theo đúng trình tự, thủ tục mà bản quy chế đã quy định.

- Chấn chỉnh công tác thông tin, báo cáo, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quyết định của Chính phủ; chế độ hội họp, tiếp khách, phục vụ tốt công tác quản lý điều hành công việc và tránh gây lãng phí thì giờ, tiền của.

2. Cùng với việc giải quyết gấp một số khâu công việc như đã nêu ở điểm 1 trên đây, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần thông qua việc thực hiện chủ trưởng của Chính phủ về đổi mới, kiện toàn tổ chức, về chống tham nhũng, buôn lậu để đề ra những biện pháp nhằm đưa việc thực hiện quy chế làm việc của Bộ, ngành, địa phương vào nền nếp, quy củ; chú trọng:

- Trên cơ sở xác định lại chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và phương thức hoạt động của Bộ, ngành, địa phương, cần xác định mới hoặc bổ sung Nghị định hoặc Điều lệ để quy chế hoá mọi hoạt động của từng tổ chức và từng cá nhân trong cơ quan Bộ, Uỷ ban nhân dân.

- Thay đổi, bổ sung nhằm tăng cường cho bộ máy giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước (Vụ, Văn phòng, Sở) số cán bộ có trình độ nghiên cứu, tổng hợp nắm được pháp luật và thành thạo trong việc soạn thảo các văn bản quản lý hành chính Nhà nước; có kế hoạch bồi dưỡng và có chế độ đãi ngộ thích đáng để những cán bộ này yên tâm làm việc.

Trên đây, là một số việc cần làm để thực hiện quy chế làm việc của Chính phủ. Trong khi thực hiện, nếu gặp khó khăn hoặc phát sinh vấn đề cần giải quyết, các cơ quan báo cáo về Văn phòng Chính phủ để trình Thủ tướng xem xét giải quyết.

Lê Xuân Trinh

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 32-BT năm 1992 về những việc cần làm để thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ do Văn phòng chính phủ ban hành

Số hiệu: 32-BT
Loại văn bản: Thông tư
Ngày ban hành: 01/12/1992
Nơi ban hành: Văn phòng Chính phủ
Người ký: Lê Xuân Trinh
Ngày công báo: 31/12/1992
Số công báo: Số 24
Ngày hiệu lực: 16/12/1992
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thông tư 32-BT năm 1992 về những việc cần làm...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký