Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Thông tư 48/2010/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chi tiết chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm nhằm thiết lập hệ thống giám sát dịch tễ đồng bộ, kịp thời và chính xác trên phạm vi toàn quốc.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam liên quan đến hoạt động khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm. Đối tượng thực hiện bao gồm người dân tại vùng dịch, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (công lập và tư nhân), hệ thống y tế dự phòng từ trung ương đến địa phương, các Viện dịch tễ, Viện Sốt rét, và các cơ quan quản lý nhà nước về y tế.

Nguyên tắc khai báo, thông tin, báo cáo và quy định khi có dịch

  • Nguyên tắc cơ bản: Mọi nội dung khai báo, thông tin, báo cáo về bệnh truyền nhiễm phải bảo đảm tính trung thực, đầy đủ, kịp thời, đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và tuân thủ nghiêm ngặt các biểu mẫu quy định kèm theo Thông tư.
  • Khai báo khi có dịch: Người dân sinh sống trong vùng dịch, người mắc bệnh, nghi ngờ mắc bệnh hoặc phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm phải thực hiện khai báo ngay cho y tế thôn, bản hoặc trạm y tế xã theo quy định của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm. Cơ sở y tế sau khi tiếp nhận thông tin phải lập tức tiến hành điều tra, xác minh tính xác thực và thực hiện báo cáo lên cấp trên nếu thông tin chính xác.

Chế độ, hình thức và các chỉ số báo cáo bệnh truyền nhiễm

  • Chế độ báo cáo: Gồm báo cáo định kỳ (ngày, tuần, tháng, năm); báo cáo nhanh (thực hiện theo yêu cầu của cơ quan cấp trên để đáp ứng công việc trong thời gian ngắn); và báo cáo đột xuất (áp dụng khi phát hiện ca nghi nhiễm/nhiễm nhóm A hoặc khi phát hiện ổ dịch, dịch, thực hiện tối đa không quá 24 giờ sau khi phát hiện, sau đó chuyển sang báo cáo ngày).
  • Hình thức báo cáo: Thực hiện theo quy định của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
  • Chỉ số báo cáo cốt lõi: Bao gồm số người mắc bệnh mới (tính theo ngày khởi phát trong giai đoạn báo cáo); số người tử vong do bệnh truyền nhiễm (tính theo ngày tử vong); số tích lũy người mắc và tử vong trong khoảng thời gian giám sát; kết quả giám sát dịch tễ; cùng thời gian, địa điểm phát hiện ca bệnh, ổ dịch hoặc dịch.
  • Nội dung báo cáo định kỳ: Báo cáo ngày tính trong 24 giờ (từ 00h00 đến 24h00); báo cáo tuần tính từ 00h00 thứ Hai đến 24h00 Chủ nhật (thực hiện ngay cả khi không ghi nhận ca bệnh); báo cáo tháng và năm tính từ 00h00 ngày đầu tiên đến 24h00 ngày cuối cùng của kỳ báo cáo.
  • Nội dung báo cáo đột xuất: Báo cáo phát hiện ổ dịch phải nêu rõ thời gian, địa điểm, số ca mắc/tử vong, kết quả xét nghiệm ban đầu, nhận định tình hình và các biện pháp xử lý đã triển khai; báo cáo trường hợp bệnh thực hiện ngay khi có kết quả điều tra ban đầu đối với bệnh nhóm A hoặc ca đầu tiên của ổ dịch.

Quy trình và thời hạn báo cáo định kỳ bệnh truyền nhiễm

  • Tuyến y tế thôn, bản và phòng khám chuyên khoa tư nhân: Thu thập, tổng hợp số liệu gửi Trạm Y tế xã. Thời hạn: Báo cáo ngày trước 9h00 ngày hôm sau; báo cáo tuần trước 14h00 thứ Hai tuần kế tiếp; báo cáo tháng trước ngày 03 tháng kế tiếp; báo cáo năm trước ngày 05 tháng 01 năm kế tiếp.
  • Trạm Y tế xã: Tổng hợp, xác minh và báo cáo số liệu trên địa bàn cho Trung tâm Y tế huyện, đồng thời phản hồi thông tin cho các đơn vị thuộc địa bàn phụ trách. Thời hạn: Báo cáo ngày trước 11h00 ngày hôm sau; báo cáo tuần trước 14h00 thứ Ba tuần kế tiếp; báo cáo tháng trước ngày 05 tháng kế tiếp; báo cáo năm trước ngày 07 tháng 01 năm kế tiếp.
  • Đơn vị y tế cơ quan, doanh nghiệp, bệnh viện huyện, phòng khám đa khoa tư nhân: Tổng hợp, xác minh và báo cáo số liệu tại cơ sở mình cho Trung tâm Y tế huyện theo thời hạn tương tự Trạm Y tế xã.
  • Trung tâm Y tế huyện: Phân tích, báo cáo số liệu cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh (và Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh nếu có đối với bệnh sốt rét, ký sinh trùng, côn trùng), đồng thời phản hồi thông tin cho các đơn vị phụ trách. Thời hạn: Báo cáo ngày trước 14h00 ngày hôm sau; báo cáo tuần trước 14h00 thứ Tư tuần kế tiếp; báo cáo tháng trước ngày 10 tháng kế tiếp; báo cáo năm trước ngày 10 tháng 01 năm kế tiếp.
  • Bệnh viện tỉnh, bệnh viện Bộ/ngành, bệnh viện tư nhân trên địa bàn: Báo cáo cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh và Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh theo thời hạn tương tự Trung tâm Y tế huyện.
  • Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế: Báo cáo số liệu phát hiện tại cửa khẩu cho Cục Y tế dự phòng, các Viện dịch tễ khu vực, đồng thời thông báo cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh và Trung tâm Phòng chống Sốt rét tỉnh theo thời hạn tương tự Trung tâm Y tế huyện.
  • Bệnh viện trung ương: Báo cáo số liệu tại cơ sở cho các Viện dịch tễ và Viện Sốt rét khu vực, đồng thời thông báo cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh và Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh theo thời hạn tương tự Trung tâm Y tế huyện.
  • Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh: Báo cáo cho Sở Y tế, Cục Y tế dự phòng, các Viện dịch tễ khu vực (và Viện Sốt rét khu vực nếu tỉnh chưa có Trung tâm Phòng chống sốt rét riêng), đồng thời phản hồi thông tin cho cấp dưới. Thời hạn: Báo cáo ngày trước 15h00 ngày hôm sau; báo cáo tuần trước 14h00 thứ Năm tuần kế tiếp; báo cáo tháng trước ngày 15 tháng kế tiếp; báo cáo năm trước ngày 15 tháng 01 năm kế tiếp.
  • Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh (nếu có): Báo cáo số liệu về sốt rét, ký sinh trùng, côn trùng cho Sở Y tế, Cục Y tế dự phòng và Viện Sốt rét khu vực theo thời hạn tương tự Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh (khi đó Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh không báo cáo các nội dung này).
  • Các Viện dịch tễ, Viện Sốt rét khu vực: Tổng hợp, xác minh số liệu từ các tỉnh, bệnh viện trung ương, trung tâm kiểm dịch quốc tế để báo cáo Cục Y tế dự phòng, đồng thời phản hồi thông tin cho các đơn vị phụ trách. Thời hạn: Báo cáo ngày trước 16h00 ngày hôm sau; báo cáo tuần trước 16h00 thứ Năm tuần kế tiếp; báo cáo tháng trước ngày 20 tháng kế tiếp; báo cáo năm trước ngày 20 tháng 01 năm kế tiếp.

Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống y tế

  • Cục Y tế dự phòng: Chỉ đạo toàn bộ hoạt động giám sát, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm toàn quốc; là cơ quan duy nhất được Bộ trưởng Bộ Y tế ủy quyền thông báo quốc tế theo Điều lệ Y tế quốc tế; thực hiện tổng hợp, phân tích số liệu, hướng dẫn, kiểm tra giám sát và phối hợp chia sẻ thông tin với các Bộ, ngành, truyền thông.
  • Cục Quản lý khám, chữa bệnh: Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và đôn đốc việc thực hiện giám sát, báo cáo bệnh truyền nhiễm tại tất cả các bệnh viện, phòng khám, cơ sở điều trị nhà nước và tư nhân trên toàn quốc.
  • Các Viện thuộc hệ y tế dự phòng (Viện dịch tễ, Viện Sốt rét): Thu thập, phân tích, lưu trữ số liệu; chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật và kiểm tra giám sát các tuyến thuộc khu vực phụ trách; phối hợp chia sẻ thông tin giám sát giữa các Viện.
  • Sở Y tế và các đơn vị trực thuộc: Sở Y tế chỉ đạo toàn diện trên địa bàn; Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Y tế huyện và Trạm Y tế xã lần lượt là các đầu mối giúp cấp trên giám sát, kiểm tra và triển khai chế độ thông tin, báo cáo tại địa phương.
  • Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo; phối hợp chặt chẽ với đơn vị y tế dự phòng trong điều tra ca bệnh, lấy và chia sẻ mẫu bệnh phẩm, cung cấp hồ sơ bệnh án liên quan và triển khai các biện pháp phòng chống lây nhiễm tại cơ sở.

Hiệu lực thi hành

Thông tư 48/2010/TT-BYT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2011. Quyết định số 4880/2002/QĐ-BYT ngày 06 tháng 02 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm chính thức hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực. Trong quá trình thực hiện, mọi vướng mắc phát sinh cần được phản ánh kịp thời về Bộ Y tế (Cục Y tế dự phòng) để nghiên cứu, giải quyết.

BỘ Y TẾ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------

Số: 48/2010/TT-BYT

Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2010

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ KHAI BÁO, THÔNG TIN, BÁO CÁO BỆNH TRUYỀN NHIỄM

Căn cứ Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Bộ Y tế hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm như sau:

Chương I

NGUYÊN TẮC, CHẾ ĐỘ, HÌNH THỨC, NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH KHAI BÁO, THÔNG TIN, BÁO CÁO BỆNH TRUYỀN NHIỄM

Điều 1. Nguyên tắc khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm

1. Nội dung khai báo, thông tin, báo cáo phải bảo đảm tính trung thực, đầy đủ và kịp thời.

2. Việc thông tin, báo cáo phải bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và theo đúng các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư này.

Điều 2. Khai báo khi có dịch

1. Người dân sinh sống trong khu vực được công bố dịch, người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người phát hiện trường hợp mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm phải thực hiện việc khai báo bệnh dịch cho y tế thôn, bản, trạm y tế xã theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

2. Ngay sau khi tiếp nhận thông tin về bệnh dịch từ người dân tại khu vực có dịch, cơ sở y tế phải thực hiện việc điều tra, xác minh tính xác thực của thông tin. Trường hợp xác định thông tin đó là chính xác phải thực hiện việc báo cáo theo quy định tại Điều 3, Điều 4, Điều 5 của Thông tư này.

Điều 3. Chế độ và hình thức thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm

1. Chế độ báo cáo bệnh truyền nhiễm:

a) Báo cáo định kỳ bao gồm báo cáo ngày, báo cáo tuần, báo cáo tháng và báo cáo năm;

b) Báo cáo nhanh được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan cấp trên để đáp ứng công việc trong thời gian ngắn;

c) Báo cáo đột xuất (gồm báo cáo phát hiện ổ dịch, dịch và báo cáo trường hợp bệnh) được thực hiện ngay sau khi phát hiện có trường hợp nghi mắc hoặc mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc khi phát hiện ổ dịch, dịch nhưng tối đa không quá 24 giờ. Sau khi thực hiện báo cáo đột xuất thì thực hiện việc báo cáo trường hợp nghi mắc hoặc mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, ổ dịch, dịch nêu trên theo chế độ báo cáo ngày.

2. Hình thức thông tin, báo cáo thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 22 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

Điều 4. Chỉ số và nội dung báo cáo bệnh truyền nhiễm

1. Chỉ số báo cáo bao gồm:

a) Số người mắc bệnh truyền nhiễm: Số trường hợp bệnh nhân theo định nghĩa ca bệnh giám sát tính theo ngày khởi phát trong giai đoạn cần báo cáo;

b) Số người tử vong do bệnh truyền nhiễm: Số trường hợp tử vong được chẩn đoán xác định do bệnh truyền nhiễm tính theo ngày tử vong có trong giai đoạn cần báo cáo;

c) Số tích lũy người mắc bệnh truyền nhiễm: Cộng dồn các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm trong khoảng thời gian giám sát nhất định hoặc theo từng loại thống kê, báo cáo;

d) Số tích lũy người tử vong do bệnh truyền nhiễm: Cộng dồn các trường hợp người chết do bệnh truyền nhiễm trong khoảng thời gian giám sát nhất định hoặc theo từng loại thống kê, báo cáo;

đ) Kết quả giám sát dịch tễ;

e) Thời gian, địa điểm phát hiện các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm, ổ dịch hoặc dịch.

2. Nội dung báo cáo định kỳ:

a) Báo cáo ngày: Thực hiện theo quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này. Các chỉ số của báo cáo ngày được tính trong 24 giờ từ 00h00 đến 24h00 của ngày báo cáo.

b) Báo cáo tuần: Danh mục bệnh và nội dung báo cáo tuần thực hiện theo quy định tại Mục A Phụ lục 3, Phụ lục 4, Phụ lục 5, Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này. Các chỉ số của báo cáo tuần được tính trong 7 ngày, từ 00h00 ngày thứ Hai đến 24h00 ngày Chủ nhật của tuần báo cáo. Báo cáo tuần được thực hiện kể cả khi không ghi nhận trường hợp bệnh.

c) Báo cáo tháng, năm: Danh mục bệnh và nội dung báo cáo tháng, năm thực hiện theo quy định tại Mục B Phụ lục 3, Phụ lục 7, Phụ lục 8, Phụ lục 9, Phụ lục 10, Phụ lục 11 ban hành kèm theo Thông tư này. Các chỉ số của báo cáo được tính từ 00h00 ngày đầu tiên đến 24h00 ngày cuối cùng của tháng báo cáo; các chỉ số của báo cáo năm được tính từ 00h00 ngày đầu tiên đến 24h00 ngày cuối cùng của năm báo cáo.

3. Nội dung báo cáo nhanh: Thực hiện theo yêu cầu cụ thể của cơ quan yêu cầu báo cáo.

4. Nội dung báo cáo đột xuất:

a) Báo cáo phát hiện ổ dịch, dịch thực hiện theo quy định tại Phụ lục 12 ban hành kèm theo Thông tư này. Trong đó, phải nêu rõ thời gian, địa điểm, số trường hợp mắc, tử vong; các kết quả điều tra, xét nghiệm ban đầu, nhận định về tình hình bệnh dịch và các biện pháp phòng, chống dịch đã triển khai (nếu có);

b) Báo cáo trường hợp bệnh thực hiện theo quy định tại Phụ lục 13, Phụ lục 14 ban hành kèm theo Thông tư này. Báo cáo được thực hiện ngay khi có kết quả điều tra ban đầu đối với các bệnh thuộc nhóm A hoặc các trường hợp đầu tiên của ổ dịch, dịch.

Điều 5. Quy trình báo cáo định kỳ bệnh truyền nhiễm

Quy trình báo cáo định kỳ bệnh truyền nhiễm thực hiện theo sơ đồ quy định tại Phụ lục 15 ban hành kèm theo Thông tư này, cụ thể như sau:

1. Y tế thôn, bản và các phòng khám chuyên khoa tư nhân có trách nhiệm thu thập, tổng hợp, báo cáo số liệu bệnh truyền nhiễm cho Trạm Y tế xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là xã) theo thời gian sau:

a) Đối với báo cáo ngày: Trước 9h00 ngày hôm sau;

b) Đối với báo cáo tuần: Trước 14h00 thứ Hai tuần kế tiếp;

c) Đối với báo cáo tháng: Trước ngày 03 của tháng kế tiếp;

d) Đối với báo cáo năm: Trước ngày 05 tháng 01 của năm kế tiếp.

2. Trạm Y tế xã có trách nhiệm tổng hợp, xác minh và báo cáo số liệu bệnh truyền nhiễm trong địa bàn xã cho Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là huyện), đồng thời thực hiện việc phản hồi thông tin cho các đơn vị thuộc địa bàn phụ trách theo thời gian như sau:

a) Đối với báo cáo ngày: Trước 11h00 ngày hôm sau;

b) Đối với báo cáo tuần: Trước 14h00 thứ Ba tuần kế tiếp;

c) Đối với báo cáo tháng: Trước ngày 05 của tháng kế tiếp;

d) Đối với báo cáo năm: Trước ngày 07 tháng 01 của năm kế tiếp.

3. Đơn vị y tế tại các công nông trường, xí nghiệp, nhà máy, cơ quan, trường học (sau đây gọi tắt là đơn vị y tế cơ quan, doanh nghiệp), bệnh viện huyện, các phòng khám đa khoa tư nhân có trách nhiệm tổng hợp, xác minh và báo cáo số liệu bệnh truyền nhiễm tại cơ sở mình cho Trung tâm Y tế huyện theo thời gian quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trung tâm Y tế huyện có trách nhiệm phân tích, báo cáo số liệu bệnh truyền nhiễm trong địa bàn huyện cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) và thông tin bệnh về bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùng cho Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh (đối với các tỉnh đã thành lập Trung tâm này), đồng thời thực hiện việc phản hồi thông tin cho các đơn vị thuộc địa bàn phụ trách theo thời gian như sau:

a) Đối với báo cáo ngày: Trước 14h00 ngày hôm sau;

b) Đối với báo cáo tuần: Trước 14h00 thứ Tư tuần kế tiếp;

c) Đối với báo cáo tháng: Trước ngày 10 của tháng kế tiếp;

d) Đối với báo cáo năm: Trước ngày 10 tháng 01 của năm kế tiếp.

5. Bệnh viện tỉnh, bệnh viện thuộc các Bộ, ngành, bệnh viện tư nhân đóng trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo thông tin bệnh truyền nhiễm tại cơ sở mình cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh và thông tin bệnh về bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùng cho Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh (đối với các tỉnh đã thành lập Trung tâm này) theo thời gian quy định tại khoản 4 Điều này.

6. Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế có trách nhiệm tổng hợp, xác minh, báo cáo số liệu bệnh truyền nhiễm phát hiện tại các cửa khẩu cho Cục Y tế dự phòng và các Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên (sau đây gọi tắt là Viện dịch tễ) phụ trách khu vực, đồng thời thông báo cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống Sốt rét tỉnh theo thời gian quy định tại khoản 4 Điều này.

7. Bệnh viện trung ương có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo thông tin bệnh truyền nhiễm tại cơ sở mình cho các Viện dịch tễ và các Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi chung là Viện Sốt rét) phụ trách khu vực (đối với bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùng), đồng thời thông báo cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh theo thời gian quy định tại khoản 4 Điều này.

8. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo thông tin bệnh truyền nhiễm tại cơ sở mình cho Sở Y tế tỉnh, Cục Y tế dự phòng, các Viện dịch tễ phụ trách khu vực và thông tin bệnh về bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùng cho các Viện Sốt rét phụ trách khu vực, đồng thời thực hiện việc phản hồi thông tin cho các đơn vị thuộc địa bàn phụ trách theo thời gian sau:

a) Đối với báo cáo ngày: Trước 15h00 ngày hôm sau;

b) Đối với báo cáo tuần: Trước 14h00 thứ Năm tuần kế tiếp;

c) Đối với báo cáo tháng: Trước ngày 15 của tháng kế tiếp;

d) Đối với báo cáo năm: Trước ngày 15 tháng 01 của năm kế tiếp.

9. Đối với các tỉnh đã thành lập Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh thì Trung tâm này có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo thông tin bệnh về bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùng cho Sở Y tế tỉnh, Cục Y tế dự phòng và Viện Sốt rét, đồng thời thực hiện việc phản hồi thông tin cho các đơn vị thuộc địa bàn phụ trách theo thời gian quy định tại khoản 8 Điều này. Trong trường hợp này, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh không thực hiện việc báo cáo và phản hồi thông tin bệnh về bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùng cho Sở Y tế tỉnh, Cục Y tế dự phòng và Viện Sốt rét.

10. Các Viện dịch tễ, Viện Sốt rét có trách nhiệm tổng hợp, xác minh thông tin bệnh truyền nhiễm từ các Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh, Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế, bệnh viện trung ương trong khu vực được giao phụ trách và báo cáo Cục Y tế dự phòng, đồng thời thực hiện việc phản hồi thông tin cho các đơn vị thuộc địa bàn phụ trách theo thời gian sau:

a) Đối với báo cáo ngày: Trước 16h00 ngày hôm sau;

b) Đối với báo cáo tuần: Trước 16h00 thứ Năm tuần kế tiếp;

c) Đối với báo cáo tháng: Trước ngày 20 của tháng kế tiếp;

d) Đối với báo cáo năm: Trước ngày 20 tháng 01 của năm kế tiếp.

Chương II

TRÁCH NHIỆM TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN VIỆC THÔNG TIN, BÁO CÁO BỆNH TRUYỀN NHIỄM

Điều 6. Trách nhiệm của Cục Y tế dự phòng

1. Xây dựng, chỉ đạo toàn bộ các hoạt động về giám sát, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên toàn quốc, là cơ quan duy nhất được Bộ trưởng Bộ Y tế ủy quyền thông báo quốc tế bệnh truyền nhiễm. Nội dung thông báo quốc tế bệnh truyền nhiễm theo Điều lệ Y tế quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu giám sát các bệnh truyền nhiễm, thực hiện việc thông tin, báo cáo hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm trên phạm vi cả nước.

3. Hướng dẫn các đơn vị thực hiện việc thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm theo quy định.

4. Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên phạm vi cả nước.

5. Phối hợp chia sẻ thông tin về bệnh dịch với các Bộ, ban, ngành, các cơ quan truyền thông đại chúng và quốc tế theo quy định.

Điều 7. Trách nhiệm của Cục Quản lý khám, chữa bệnh

1. Chỉ đạo việc thực hiện hoạt động về giám sát và báo cáo bệnh truyền nhiễm tại tất cả các bệnh viện, phòng khám, các cơ sở điều trị nhà nước và tư nhân trên toàn quốc.

2. Tổ chức kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện thông tư này tại tất cả các bệnh viện, phòng khám tại các cơ sở điều trị nhà nước và tư nhân trên toàn quốc.

Điều 8. Trách nhiệm của các Viện thuộc hệ y tế dự phòng của Bộ Y tế

1. Thu thập, phân tích, đánh giá, lưu trữ số liệu giám sát các bệnh truyền nhiễm; thực hiện việc thông tin, báo cáo hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm của các đơn vị theo khu vực phụ trách.

2. Chỉ đạo chuyên môn, kỹ thuật, tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện thông tin, báo cáo tại các đơn vị ở các tuyến thuộc khu vực phụ trách.

3. Phối hợp và chia sẻ thông tin giám sát bệnh truyền nhiễm giữa các Viện dịch tễ và Việt Sốt rét.

Điều 9. Trách nhiệm của các Sở Y tế, các đơn vị y tế thuộc Sở Y tế

1. Sở Y tế có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn quản lý thực hiện chế độ thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm theo đúng quy định.

2. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh là đầu mối giúp Sở Y tế giám sát, kiểm tra và triển khai thực hiện chế độ thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh.

3. Trung tâm Y tế huyện là đầu mối giúp Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh giám sát, kiểm tra và triển khai thực hiện chế độ thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên địa bàn huyện.

4. Trạm Y tế xã là đầu mối giúp Trung tâm Y tế huyện giám sát, kiểm tra và triển khai thực hiện chế độ thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên địa bàn xã.

Điều 10. Trách nhiệm của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

1. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm theo đúng quy định của Thông tư này để thực hiện giám sát, xử lý kịp thời bệnh truyền nhiễm.

2. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị y tế dự phòng trong việc điều tra và báo cáo kết quả điều tra ca bệnh; lấy mẫu bệnh phẩm; chia sẻ mẫu bệnh phẩm hoặc chủng tác nhân gây bệnh để chẩn đoán xác định; cung cấp thông tin, hồ sơ có liên quan đến người bệnh (chẩn đoán, điều trị, kết quả xét nghiệm, các yếu tố dịch tễ) và các biện pháp xử lý và phòng chống lây nhiễm đã triển khai tại cơ sở.

Chương III

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 11. Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 02 năm 2011. Quyết định số 4880/2002/QĐ-BYT ngày 06 tháng 02 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Y tế (Cục Y tế dự phòng) để nghiên cứu giải quyết ./.

Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (Vụ KGVX, Công báo, Cổng TTĐT);
- Bộ Tư pháp (Cục KTVBQPPL);
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Bộ trưởng (để b/c);
- Các Thứ trưởng (để phối hợp chỉ đạo);
- Các Cục, Vụ, VPB, Thanh tra Bộ, Tổng cục thuộc Bộ Y tế;
- Các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế;
- Y tế các Bộ, Ngành;
- Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- TTYTDP, TTPCSR,TTKDYTQT các tỉnh, tp trực thuộc TW;
- Cổng TTĐT Bộ Y tế;
- Lưu: VT, DP (03b), PC (02b)

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Trịnh Quân Huấn

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 48/2010/TT-BYT hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm do Bộ Y tế ban hành

Số hiệu: 48/2010/TT-BYT
Loại văn bản: Thông tư
Ngày ban hành: 31/12/2010
Nơi ban hành: Bộ Y tế
Người ký: Trịnh Quân Huấn
Ngày công báo: 22/01/2011
Số công báo: Từ số 65 đến số 66
Ngày hiệu lực: 15/02/2011
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thể thao - Y tế
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thông tư 48/2010/TT-BYT hướng dẫn chế độ khai...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký