Thông tư liên bộ 24/LB-TT được ban hành ngày 18 tháng 9 năm 1995 bởi Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nhằm hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đặc thù đối với quân nhân, công nhân viên quốc phòng làm việc tại các trại giam, trại tạm giam và nhà tạm giữ do Bộ Quốc phòng quản lý.
Đối tượng và phạm vi áp dụng
Văn bản quy định chi tiết về các đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp đặc thù bao gồm:
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc biên chế của các trại giam, trại tạm giam và nhà tạm giữ do Bộ Quốc phòng quản lý.
- Công nhân viên quốc phòng trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý, giáo dục, cải tạo, canh gác, dẫn giải phạm nhân, hoặc phục vụ tại các cơ sở giam giữ này.
- Các đối tượng không thuộc biên chế nhưng được cấp có thẩm quyền điều động, biệt phái làm nhiệm vụ thường trực tại các trại giam, trại tạm giam trong thời gian từ một tháng trở lên.
Mức phụ cấp và phương thức tính trả
Chế độ phụ cấp được chia thành các mức cụ thể dựa trên tính chất công việc và mức độ tiếp xúc, quản lý phạm nhân:
- Mức phụ cấp 25%: Áp dụng đối với các đối tượng trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý, giáo dục, cải tạo, hướng dẫn lao động, dạy nghề, canh gác, bảo vệ, dẫn giải phạm nhân, kiểm sát giam giữ, và cán bộ y tế trực tiếp khám chữa bệnh cho phạm nhân tại các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ. Mức phụ cấp này được tính trên mức lương cấp bậc, quân hàm hoặc lương chức vụ hiện hưởng.
- Mức phụ cấp 15%: Áp dụng đối với các đối tượng làm nhiệm vụ gián tiếp phục vụ tại các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ như nhân viên hành chính, văn thư, kế toán, thủ kho, thủ quỹ, lái xe, và các vị trí hỗ trợ khác không trực tiếp tiếp xúc thường xuyên với phạm nhân.
- Cách tính và nguồn kinh phí chi trả: Tiền phụ cấp được tính theo công thức lấy hệ số lương hiện hưởng (cộng phụ cấp chức vụ nếu có) nhân với mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm hưởng, sau đó nhân với tỷ lệ phần trăm phụ cấp được hưởng (15% hoặc 25%). Khoản phụ cấp này được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng và được hạch toán vào ngân sách quốc phòng thường xuyên.
Các trường hợp không được hưởng phụ cấp
Thông tư cũng quy định rõ các khoảng thời gian không được tính hưởng phụ cấp trại giam bao gồm:
- Thời gian đi học tập, thực tập, điều trị tại các bệnh viện, bệnh xá vượt quá thời hạn quy định (từ một tháng trở lên).
- Thời gian nghỉ việc riêng không hưởng lương hoặc nghỉ phép năm vượt quá thời hạn quy định.
- Thời gian bị đình chỉ công tác để điều tra, thanh tra hoặc bị tạm giữ, tạm giam.
Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện
Thông tư liên bộ 24/LB-TT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1995. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chỉ đạo Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và các cơ quan chức năng hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chế độ phụ cấp này đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn quy định, tránh thất thoát ngân sách nhà nước.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI-BỘ QUỐC PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 24/LB-TT | Hà Nội , ngày 21 tháng 9 năm 1995 |
Thi hành Quyết định số 316/CP ngày 25-5-1995 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ phụ cấp quản lý trại giam; sau khi có ý kiến của Bộ Tài chính tại công văn số 2194 TC/VI ngày 21 tháng 8 năm 1995; Liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Quốc phòng hướng dẫn thực hiện như sau:
1. Đối tượng áp dụng:
Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, nhân viên trực tiếp công tác ở các trại giam thuộc Bộ quốc phòng quản lý, bao gồm:
- Giám thị; phó giám thị trại giam;
- Quản giáo;
- Vệ binh;
- Cán bộ y tế trực tiếp khám chữa bệnh cho phạm nhân;
- Nhân viên phục vụ.
2. Đối tượng không áp dụng:
Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ và nhân viên phục vụ thuộc các chức danh nêu tại điểm 1 công tác ở các trại tạm giam.
Phụ cấp quản lý trại giam gồm 3 mức 25% - 15% - 5% tính trên lương cấp bậc, chức vụ đối với sĩ quan, nhân viên hưởng lương hoặc phụ cấp quân hàm đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ hưởng sinh hoạt phí được áp dụng như sau:
1. Mức phụ cấp 25% áp dụng đối với
Giám thị, phó giám thị, quản giáo, vệ binh, cán bộ y tế của 6 trại giam sau:
a) Trại giam thuộc Quân khu 1, ở Thịnh Đức, Đồng Hỷ, Bắc Thái;
b) Trại giam thuộc Quân khu 3, ở Ba Sao, Kim Bảng, Nam Hà;
c) Trại giam thuộc Quân khu 5, ở Bình Khương, Bình Sơn, Quảng Ngãi;
d) Trại giam thuộc Quân khu 7, ở Cà Tum, Tân Biên, Tây Ninh;
e) Trại giam thuộc Quân khu 9, ở Thốt Lốt, Hậu Giang.
f) Trại giam thuộc Bộ Quốc phòng T-974 ở Thành Long, Thạch Thành, Thanh Hoá.
2. Mức phụ cấp 15% áp dụng đối với:
Nhân viên phục vụ của 6 trại giam thuộc điểm 1 và giám thị, phó giám thị, quản giáo, vệ binh, cán bộ y tế của các trại giam: Trại giam thuộc quân khu 7 ở Quân Lao Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh; Trại giam thuộc Bộ Quốc phòng T-771 ở Sơn Đà, Ba Vì, Hà Tây; Trại giam thuộc Quân khu 4 ở Nghi Công, Nghi Lộc, Nghệ An và Trại giam thuộc quân khu 2 ở Hiệp Ninh, Trấn Yên, Yên Bái.
3. Mức phụ cấp 5% áp dụng đối với:
Nhân viên phục vụ của các trại giam: Trại giam thuộc Quân khu 7 ở Quân Lao Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh; Trại giam thuộc Bộ quốc phòng T-771; trại giam thuộc Quân khu 4 ở Nghi Công, Nghi Lộc, Nghệ An và Trại giam thuộc quân khu 2 ở Hiệp Ninh, Trấn Yên, Yên Bái.
Phụ cấp quản lý trại giam được tính trả theo số ngày thực tế làm việc trong tháng ở trại giam và được trả cùng kỳ lương hàng tháng theo công thức sau:
|
|
| Tiền lương (quân hàm hoặc cấp bậc, chức vụ) tháng (kể cả phụ cấp chức vụ); phụ cấp quân hàm |
| Mức phụ cấp 25% hoặc |
|
|
| | = |
| x | 15% hoặc | x | làm việc |
| trại giam |
| 26 ngày |
| 5% được hưởng theo quy định |
| ở trại giam |
Các ngày khác như nghỉ phép, đi học, ốm đau... không liên quan đến công việc thường ngày ở trại giam đều không được tính trả khoản phụ cấp này.
Chế độ phụ cấp quản lý trại giam được thực hiện từ 1/5/1995. Riêng năm 1995 ngân sách không cấp bổ sung thêm do thực hiện chế độ này mà tự sắp xếp trong nguồn ngân sách kế hoạch đã bố trí đầu năm 1995.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh về Liên Bộ xem xét, giải quyết.
| Lê Duy Đồng (Đã ký) | Nguyễn Trọng Xuyên (Đã ký) |