Thông tư liên tịch số 02/TT-LN được ban hành ngày 27 tháng 08 năm 1991 bởi Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhằm hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự ngày 27 tháng 06 năm 1991.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Thông tư liên tịch
Văn bản này hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định pháp luật hình sự đối với các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng và các cá nhân, tổ chức có liên quan trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự phát sinh từ thời điểm Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 1991 có hiệu lực thi hành.
Nội dung cốt lõi của Thông tư liên tịch 02/TT-LN năm 1991
- Nguyên tắc áp dụng hiệu lực hồi tố của luật hình sự mới
- Đối với các hành vi phạm tội thực hiện trước ngày 27 tháng 06 năm 1991 (ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có hiệu lực) nhưng sau thời điểm này mới bị phát hiện, điều tra, truy tố hoặc xét xử, thì áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội.
- Nếu điều luật mới quy định hình phạt nhẹ hơn hoặc không cấu thành tội phạm thì áp dụng quy định của luật mới để giải quyết.
- Nếu điều luật mới quy định hình phạt nặng hơn hoặc bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng mới thì phải áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 trước khi sửa đổi để xét xử.
- Hướng dẫn xác định giá trị tài sản bị xâm hại và định khung hình phạt
- Việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, hủy hoại hoặc làm hư hỏng phải căn cứ vào giá thị trường tự do tại địa phương vào thời điểm xảy ra hành vi phạm tội hoặc thời điểm định giá tài sản để làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Quy định rõ ranh giới định lượng về mặt giá trị tài sản để phân biệt giữa xử lý hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và sở hữu của công dân.
- Hướng dẫn phương pháp tính toán thiệt hại thực tế trong các vụ án tham ô tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan khi áp dụng các khung hình phạt tăng nặng.
- Hướng dẫn cụ thể về một số tội phạm xâm phạm sở hữu và kinh tế
- Đối với tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản: Làm rõ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng như hành vi sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm, hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để khống chế nạn nhân.
- Đối với tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới: Hướng dẫn phân biệt rõ giữa hành vi buôn lậu (vận chuyển trái phép qua biên giới nhằm mục đích buôn bán kiếm lời) với hành vi trốn thuế hoặc vi phạm các quy định về quản lý thị trường thông thường.
- Đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán hàng cấm: Xác định danh mục các loại hàng hóa bị cấm lưu thông theo quy định của Nhà nước tại thời điểm xảy ra vụ án và cách thức xử lý vật chứng là hàng cấm.
- Hướng dẫn về quyết định hình phạt và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
- Yêu cầu các Tòa án khi quyết định hình phạt phải đánh giá toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội đối với những đối tượng chủ mưu, cầm đầu, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho nền kinh tế và trật tự an toàn xã hội.
- Khuyến khích việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, hoặc lập công chuộc tội trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Hiệu lực thi hành của văn bản
Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nội dung trái với hướng dẫn tại Thông tư liên tịch này đều bãi bỏ.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO-VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 02/TT-LN | Hà Nội , ngày 20 tháng 12 năm 1991 |
Để áp dụng thống nhất các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội thống nhất thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1991. Sau khi đã trao đổi ý kiến với Bộ Nội vụ, Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:
a. Không áp dụng quy định về tình tiết định khung hình phạt "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiệm trọng" và khung hình phạt ở khoản 3 của các Điều 88, 158, 201 và khoản 2 của các Điều 220, 221 của Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung, nghĩa là nếu hành vi phạm tội đã thực hiện trước ngày 16/8/1991 thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì kẻ phạm tội cũng chỉ bị xử phạt tương ứng theo khoản 2 của các Điều 88, 158, 201 và theo khoản 1 của các Điều 220, 221 Bộ luật hình sự khi chưa được sửa đổi, bổ sung.
b. Không áp dụng quy định mới "ở Điều 96a hoặc ở Điều 97 trong trường hợp hình phạt chính không phải là phạt tiền thì có thể bị phạt tiền đến mười lần trị giá hàng phạm pháp" tại đoạn 2 khoản 3 Điều 100, mà chỉ áp dụng quy định cũ, có nghĩa là đối với Điều 96a không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền trong mọi trường hợp, còn đối với Điều 97, trong trường hợp bị xử phạt tù thì mới có thể bị phạt tiền theo mức đã quy định ở điều ấy.
c. Không áp dụng quy định về tình tiết định khung hình phạt "trong trường hợp nghiêm trọng khác" ở đoạn 2 mới của khoản 1 Điều 103. Đối với những hành vi phạm tội này thuộc "trường hợp nghiêm trọng khác" thì kẻ phạm tội cũng chỉ bị xử phạt theo đoạn 1 khoản 1 Điều 103 Bộ luật hình sự.
d. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa" (Điều 134) và tội "nhận hối lộ" (Điều 226) mặc dù phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
đ. Không áp dụng hình phạt "tù chung thân" đối với tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa" (Điều 135) mặc dù phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
e. Không áp dụnng các quy định mới về khung hình phạt tại các khoản 1, 2, 3 Điều 157, mà tuỳ từng trường hợp cụ thể áp dụng các quy định cũ tương ứng về khung hình phạt tại các khoản 1, 2, 3 Điều 157.
g. Không áp dụng quy định mới "đã bị kết án nhưng chưa được xoá án về một trong các tội quy định ở các Điều 96a, 97, 166, 167, 169, 173 và 183 mà còn vi phạm" tại khoản 1 Điều 168, có nghĩa là người nào thuộc trường hợp này mà kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép mà chưa xử lý hành chính thì không bị truy tố và xét xử.
h. Không áp dụng Điều luật mới 205a về tội "lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân", mà chỉ áp dụng khoản 2 Điều 124 cũ về tội "xâm phạm các quyền tự do hội họp, lập hội, tín ngưỡng của công dân" đối với các hành vi lợi dụng có quyền tự do dân chủ nói trên xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân.
i. Không áp dụng quy định mới "Điều 96a, khoản 2 và 3 (tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý)" tại đoạn 2 khoản 1 Điều 246 về tội "che giấu tội phạm" và đoạn 2 khoản 1 Điều 147 về tội "Không tố giác tội phạm", cụ thể là không được truy tố, xét xử các hành vi che giấu hoặc không tố giác tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý thuộc các khoản 2, 3 Điều 96a.
a. Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật đều của cùng một Toà án thì Chánh án Toà án đó ra quyết định tổng hợp hình phạt.
b. Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toà án khác nhau nhưng cùng cấp (cùng cấp huyện trong một tỉnh hoặc khác tỉnh, cùng cấp tỉnh, cùng cấp khu vực, cùng cấp quân khu), thì Chánh án toà án ra bản án sau cùng (về mặt thời gian) ra quyết định tổng hợp hình phạt, cụ thể là: nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toà án cấp huyện khác nhau (trong cùng một tỉnh hay khác tỉnh), thì Chánh án toà án cấp huyện đã ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toà án quân sự khu vực khác nhau (trong cùng một quân khu hay khác quân khu), thì Chánh án Toà án quân sự khu vực đã ra bản án sau cùng quyết định tổng hợp hình phạt; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật đều là của các Toà án cấp tỉnh (hoặc đều là của Toá án quân sự cấp quân khu), thì Chánh án Toá án cấp tỉnh (hoặc Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu) ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt.
c. Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toá án không cùng cấp thì Chánh án Toà án cấp cao hơn ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Toà án cấp cao hơn có trước hay có sau.
d. Trong trường hợp trong số các bản án đã có hiệu lực pháp luật có bản án của Toà án nhân dân, có bản án của Toà án quân sự, thì việc tổng hợp hình phạt cũng được thực hiện tương tự như hướng dẫn tại các điểm b, c trên đây, cụ thể là: Nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của Toà án cấp huyện và của Toà án quân sự khu vực hoặc là của Toà án cấp tỉnh và của Toà án quân sự cấp quân khu, thì Chánh án Toà án đã ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt ra quyết định; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các toà án khác nhau và khác cấp, thì Chánh án Toà án cấp cao hơn ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của toà án cấp cao hơn có trước hay có sau (ví dụ: có bản án là của Toà án nhân huyện, có bản án là của Toà án quân sự quân khu, thì Chánh án Toà án quân sự quân khu ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Toà án quân sự quân khu có trước hay có sau bản án của Toà án nhân dân huyện).
đ. Trong trường hợp trong số các bản án đã có hiệu lực pháp luật có bản án là của Toà án nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận, có bản án là của Toà án Việt nam, thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định tổng hợp hình phạt.
a. Theo tinh thần của Điều 44 Bộ luật hình sự thì án treo là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Do đó, không phải tổng hợp hình phạt đối với một người có nhiều hành vi phạm tội và đã bị kết án theo các bản án khác nhau, nếu người đó:
- Đã bị phạt tù nhưng được hưởng án treo;
- Đều bị phạt tù, nhưng theo bản án này thì được hưởng án treo và theo bản án khác thì không được hưởng án treo;
- Bị phạt tù, nhưng được hưởng án treo theo bản án này về bị phạt với hình phạt khác không phải là tù theo bản án khác.
Đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp trên đây, nếu trong thời gian thử thách theo quyết định của bản án nào mà người được hưởng án treo phạm tội mới do vô ý về bị phạt tù hoặc phạm tội mới do cố ý thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định ở khoản 2 Điều 42. Trong trường hợp này, nếu trước đây bị cáo còn bị phạt tù theo một bản án khác, thì Toà án cũng tổng hợp các hình phạt của các bản án theo quy định chung.
b. Nếu người được hưởng án treo trong thời gian thử thách lại phạm tội mới do vô ý và bị phạt tù hoặc phạm tội mới do cố ý hay trong trường hợp đã bị phạt tù mà lại phạm tội mới và bị phạt tù, nhưng được hưởng án treo, thì Toà án không tổng hợp hình phạt, mà cần gửi hồ sơ vụ án về tội phạm mới cho Toà án có thẩm quyền để xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.
- Khoản 1: phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
- Khoản 2: Phạt tù từ năm năm đến mười hai năm
- Khoản 3: phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
Điều 201 cũ về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cũng chỉ có 2 khoản với khung hình phạt, nay cũng được sửa đổi thành ba khoản với ba khung hình phạt như sau:
- Khoản 1: phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù ba tháng đến ba năm;
- Khoản 2: phạt tù từ hai năm đến bảy năm
- Khoản 3: phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
Vì mức cao nhất của khung hình phạt theo khoản 1 Điều 88 mới là bảy năm (so với mười hai năm theo khoản 1 Điều 88 cũ) và mức cao nhất của khung hình phạt theo khoản 2 Điều 201 mới là bảy năm (so với mười hai năm theo khoản 2 Điều 201 cũ), cho nên các trường hợp phạm tội thuộc khoản 1 Điều 88 mới và thuộc khoản 2 Điều 201 mới nay thuộc thẩm quyền xét xử của các Toà án cấp huyện.
Tuy nhiên, đối với các vụ án về các trường hợp phạm tội thuộc khoản 1 Điều 88 mới và thuộc khoản 2 Điều 201 mới, nếu Toà án cấp tỉnh đã thụ lý hoặc Viện kiểm sát cấp tỉnh đã có quyết định truy tố tại Toà án cấp tỉnh, thì Toà án cấp tỉnh vẫn tiếp tục giải quyết vụ án hoặc thụ lý vụ án để giải quyết mà không đặt vấn đề chuyển vụ án cho Toà án cấp huyện.
| Nguyễn Văn Thìn (Đã ký) | Trịnh Hồng Dương (Đã ký) |