Tổng quan về Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10168:2013 (CAC/RCP 49-2001)
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10168:2013 hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế CAC/RCP 49-2001. Đây là văn bản kỹ thuật quy định về các biện pháp thực hành trực tiếp tại nguồn nhằm giảm thiểu tối đa sự nhiễm bẩn hóa chất vào thực phẩm. Tiêu chuẩn này đóng vai trò định hướng cho các cơ quan quản lý, nhà sản xuất và các bên liên quan trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm ngay từ giai đoạn ban đầu của chuỗi cung ứng.
Mục tiêu cốt lõi của quy phạm thực hành
- Ngăn ngừa và giảm thiểu sự xuất hiện của các chất ô nhiễm hóa học trong thực phẩm thông qua các hành động can thiệp trực tiếp tại nguồn phát thải hoặc nguồn ô nhiễm môi trường.
- Bảo vệ chuỗi thức ăn của con người và động vật khỏi các tác nhân hóa học độc hại phát sinh từ đất, nước, không khí và các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp.
- Cung cấp khung hướng dẫn kỹ thuật thống nhất để các quốc gia thành viên xây dựng chính sách và biện pháp kiểm soát ô nhiễm hóa chất phù hợp với thực tế địa phương.
Phạm vi áp dụng và các tác nhân hóa học cần kiểm soát
Tiêu chuẩn tập trung vào việc kiểm soát nguồn đối với các nhóm chất hóa học có nguy cơ cao gây ô nhiễm thực phẩm, bao gồm:
- Các kim loại nặng độc hại như chì, cadimi, thủy ngân và arsen phát sinh từ hoạt động khai khoáng, sản xuất công nghiệp hoặc tồn tại tự nhiên trong địa chất.
- Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs) như dioxin, polychlorinated biphenyls (PCBs) và các hợp chất tương tự có khả năng tích lũy sinh học cao trong chuỗi thức ăn.
- Các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp như thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thuốc thú y và các chất kích thích tăng trưởng có nguy cơ tồn dư vượt ngưỡng cho phép.
- Các chất độc tự nhiên và độc tố vi nấm phát sinh do điều kiện canh tác, thu hoạch hoặc bảo quản không đạt chuẩn.
Các biện pháp trực tiếp tại nguồn để giảm thiểu nhiễm bẩn
Quy phạm hướng dẫn thực hiện đồng bộ các nhóm biện pháp kỹ thuật và quản lý sau:
- Kiểm soát môi trường vùng sản xuất: Tiến hành đánh giá, phân loại chất lượng đất, nguồn nước tưới và không khí tại các vùng canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Nghiêm cấm việc sản xuất thực phẩm tại các khu vực bị xác định là ô nhiễm hóa chất vượt ngưỡng an toàn trừ khi có biện pháp xử lý triệt để.
- Quản lý nguồn thải công nghiệp và đô thị: Áp dụng các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt quy trình xử lý và xả thải của các nhà máy, khu công nghiệp, ngăn chặn việc phát tán trực tiếp hoặc gián tiếp các hóa chất độc hại vào nguồn nước và đất nông nghiệp.
- Áp dụng thực hành nông nghiệp tốt (GAP): Khuyến khích người sản xuất tối ưu hóa việc sử dụng hóa chất nông nghiệp, tuân thủ nghiêm ngặt thời gian cách ly, ưu tiên sử dụng các biện pháp sinh học và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để giảm thiểu tồn dư hóa chất trên nông sản.
- Thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo sớm: Tổ chức quan trắc định kỳ môi trường sản xuất và kiểm nghiệm mẫu thực phẩm để kịp thời phát hiện các nguy cơ ô nhiễm hóa chất, từ đó đưa ra các khuyến cáo và biện pháp xử lý khẩn cấp.
Trách nhiệm của các bên liên quan trong chuỗi cung ứng
- Cơ quan quản lý nhà nước: Xây dựng, ban hành và thực thi các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về giới hạn tối đa cho phép của các chất ô nhiễm trong thực phẩm. Tổ chức thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm.
- Cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm: Chủ động kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như HACCP, ISO 22000 để nhận diện, đánh giá và kiểm soát các mối nguy hóa học trong suốt quá trình sản xuất.
- Người tiêu dùng và cộng đồng: Nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm, thực hiện quyền giám sát và kịp thời phản ánh các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm tới cơ quan chức năng.
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 10168:2013
CAC/RCP 49-2001
QUY PHẠM THỰC HÀNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRỰC TIẾP TẠI NGUỒN ĐỂ GIẢM THIỂU NHIỄM BẨN HÓA CHẤT VÀO THỰC PHẨM
Code of practice concerning source directed measures to reduce contamination of food with chemicals
Lời nói đầu
TCVN 10168:2013 hoàn toàn tương đương với CAC/RCP 49-2001;
TCVN 10168:2013 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC/F3 Nguyên tắc chung về vệ sinh thực phẩm biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
QUY PHẠM THỰC HÀNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRỰC TIẾP TẠI NGUỒN ĐỂ GIẢM THIỂU NHIỄM BẨN HÓA CHẤT VÀO THỰC PHẨM
Code of practice concerning source directed measures to reduce contamination of food with chemicals
1. Tiêu chuẩn này đề cập đến các nguồn hóa chất môi trường chính có thể gây nhiễm bẩn thực phẩm và gây ra mối nguy cho sức khỏe con người, do đó, tiêu chuẩn đã được Ban kỹ thuật Codex về phụ gia thực phẩm và chất nhiễm bẩn (CCFAC/CAC) xem xét quy định. Ngoài các chất nhiễm bẩn từ môi trường, thực phẩm còn có thể chứa các hóa chất tồn dư do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến. Tuy nhiên, vì các chất này được quy định ở văn bản khác nên không đề cập đến trong tiêu chuẩn này, kể cả các độc tố vi nấm cũng như các độc tố tự nhiên.
2. Mục đích chính của tiêu chuẩn này nhằm nâng cao nhận thức về các nguồn nhiễm bẩn hóa chất vào thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và về các biện pháp trực tiếp tại nguồn để ngăn ngừa nhiễm bẩn đó. Các biện pháp được đề cập đến trong tiêu chuẩn này có thể nằm ngoài trách nhiệm quản lý của các cơ quan kiểm soát thực phẩm.
3. Cơ quan kiểm soát thực phẩm quốc gia cần thông báo cho các cơ quan và các tổ chức quốc tế có liên quan về các trường hợp nhiễm bẩn thực phẩm tiềm ẩn hoặc thực tế và khuyến khích thực hiện các biện pháp phòng ngừa thích hợp. Điều này có thể làm giảm mức độ nhiễm bẩn hóa chất trong thực phẩm và về lâu dài, nó có thể làm giảm nhu cầu thiết lập và duy trì các mức tối đa về hóa chất trong thực phẩm.
4. Có thể sử dụng các cách tiếp cận khác nhau để đảm bảo mức nhiễm bẩn hóa chất vào thực phẩm đủ thấp và không vượt quá mức tối đa cho phép/chấp nhận được đối với sức khỏe. Các cách tiếp cận này bao gồm:
a) Các biện pháp để loại bỏ hoặc kiểm soát nguồn nhiễm bẩn;
b) Quy trình chế biến giảm thiểu hàm lượng chất nhiễm bẩn;
c) Các biện pháp nhận biết và tách riêng thực phẩm nhiễm bẩn ra khỏi thực phẩm dùng cho người.
Không sử dụng thực phẩm nhiễm bẩn làm thức ăn, trừ khi thực phẩm đó có thể được chế biến lại thích hợp dùng cho người. Trong một số trường hợp, cần kết hợp nhiều phương pháp, ví dụ, nếu các chất nhiễm bẩn phát thải từ nguồn không được kiểm soát sẽ gây ô nhiễm môi trường do một hợp chất bền như PCB hoặc thủy ngân. Khi các nguồn nước nuôi trồng thủy sản hoặc đất nông nghiệp bị ô nhiễm nặng do sự phát thải cục bộ, thì cần đưa vào danh sách đen các vùng có liên quan, nghĩa là cấm buôn bán các thực phẩm có nguồn gốc từ các khu vực ô nhiễm này và ngăn chặn việc tiêu thụ các loại thực phẩm đó.
5. Việc kiểm soát các sản phẩm cuối cùng là không đủ để đảm bảo các mức nhiễm bẩn dưới mức tối đa cho phép. Trong hầu hết các trường hợp, không thể loại bỏ hết được các chất nhiễm bẩn hóa học ra khỏi thực phẩm và không có phương pháp nào khả thi để lô sản phẩm nhiễm bẩn có thể thích hợp dùng cho người. Ưu điểm của việc loại bỏ hoặc kiểm soát nhiễm bẩn thực phẩm tại nguồn là phương pháp phòng ngừa hiệu quả để giảm thiểu hoặc loại trừ nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đòi hỏi ít nguồn lực hơn để kiểm soát thực phẩm và tránh việc tiêu hủy thực phẩm.
6. Các quy trình sản xuất, chế biến và xử lý thực phẩm cần được phân tích nhằm nhận biết các mối nguy và đánh giá các nguy cơ kèm theo. Do đó cần xác định các điểm kiểm soát tới hạn và thiết lập một hệ thống giám sát quá trình sản xuất tại các điểm này (phương pháp Phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn hoặc “cách tiếp cận HACCP"). Điều quan trọng là cần kiểm soát toàn bộ chuỗi chế biến-sản xuất và phân phối, vì sự an toàn và chất lượng của thực phẩm ở các khía cạnh khác nhau không thể “được giám sát kỹ” trong sản phẩm cuối cùng.
7. Ô nhiễm không khí, nước và đất canh tác có thể làm nhiễm bẩn đến cây trồng dùng làm thực phẩm hoặc thức ăn chăn nuôi, thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, nước bề mặt và nước ngầm được sử dụng làm nguồn nước uống, sản xuất và chế biến thực phẩm. Các cơ quan có thẩm quyền cấp quốc gia và các tổ chức quốc tế có liên quan cần được thông báo về các trường hợp nhiễm bẩn thực phẩm tiềm ẩn và thực tế, cần khuyến khích thực hiện các biện pháp để:
- Kiểm soát sự phát thải các chất ô nhiễm từ công nghiệp, ví dụ như hóa chất, các ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, luyện kim và sản xuất giấy, cũng như sự phát thải các chất ô nhiễm từ việc thử nghiệm vũ khí;
- Kiểm soát sự phát thải từ ngành sản xuất năng lượng (bao gồm cả nhà máy hạt nhân) và các phương tiện vận tải;
- Kiểm soát việc xử lý chất thải sinh hoạt rắn và lỏng, chất thải công nghiệp, bao gồm sự lắng đọng trong đất, thải bỏ cặn bùn thải và đốt rác thải đô thị;
- Kiểm soát việc sản xuất, buôn bán, sử dụng và thải bỏ chất độc hại nhất định, các hợp chất bền vững trong môi trường, ví dụ các hợp chất halogen hữu cơ (PCB, chất chống cháy đã brôm hóa v.v...), các hợp chất chì, cadimi và thủy ngân;
- Trước khi các hóa chất mới được đưa ra thị trường, đặc biệt nếu phát thải ra môi trường với lượng đáng kể, thì các loại hóa chất mới này phải qua các phép thử nghiệm thích hợp để chứng tỏ rằng không có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường,
- Thay các hợp chất bền vững trong môi trường có chứa chất độc hại bằng các sản phẩm không ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường có thể chấp nhận được.