Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13905-1:2023 về Phúc lợi động vật - Giết mổ - Phần 1: Gia súc do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC/F8 Thịt và sản phẩm thịt biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị và được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Tiêu chuẩn này đưa ra các quy định, hướng dẫn kỹ thuật chi tiết nhằm bảo đảm phúc lợi động vật đối với gia súc trong suốt quá trình từ khi tiếp nhận, lưu giữ, di chuyển, khống chế, gây ngất cho đến khi giết mổ tại các cơ sở giết mổ.
Phạm vi áp dụng và đối tượng áp dụng
- Phạm vi áp dụng: Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu về phúc lợi động vật áp dụng riêng cho các loài gia súc (bao gồm trâu, bò, lợn, dê, cừu và các loài gia súc lớn khác) được đưa vào cơ sở giết mổ để làm thực phẩm.
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chuỗi giết mổ gia súc, bao gồm ban quản lý cơ sở giết mổ, nhân viên vận chuyển, người trực tiếp xử lý, gây ngất và giết mổ gia súc tại Việt Nam.
Yêu cầu chung về quản lý và năng lực nhân sự
- Cơ sở giết mổ phải xây dựng và duy trì quy trình vận hành tiêu chuẩn (SOP) bằng văn bản cho từng công đoạn, đảm bảo các nguyên tắc phúc lợi động vật được tích hợp vào hoạt động hàng ngày.
- Nhân viên trực tiếp tham gia vào các khâu bốc dỡ, dồn đuổi, khống chế, gây ngất và chọc tiết gia súc phải được đào tạo chuyên môn bài bản và có chứng chỉ hoặc xác nhận năng lực về phúc lợi động vật.
- Người vận hành thiết bị gây ngất phải có kiến thức chuyên sâu về thiết bị, hiểu rõ các dấu hiệu lâm sàng để nhận biết gia súc đã được gây ngất hiệu quả và luôn có phương án dự phòng bằng thiết bị thay thế khi xảy ra sự cố kỹ thuật.
Yêu cầu đối với khu vực tiếp nhận và chuồng lưu giữ gia súc
- Khu vực dỡ gia súc từ phương tiện vận chuyển phải có cầu dẫn với độ dốc phù hợp, bề mặt sàn phải có thiết kế chống trơn trượt để ngăn ngừa gia súc bị ngã, gãy chân hoặc chấn thương.
- Chuồng lưu giữ phải được thiết kế đủ diện tích để tất cả gia súc có thể đứng, nằm và xoay người tự nhiên. Mật độ nuôi nhốt phải tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn kỹ thuật đối với từng nhóm loài.
- Hệ thống thông gió, chiếu sáng và kiểm soát nhiệt độ tại khu vực lưu giữ phải hoạt động liên tục, đảm bảo gia súc không bị stress nhiệt, ngạt khí hoặc hoảng sợ do bóng tối.
- Gia súc bị lưu giữ trên 12 giờ phải được cung cấp thức ăn phù hợp với loài; nước uống sạch và mát phải được cung cấp liên tục và dễ dàng tiếp cận cho tất cả gia súc trong chuồng.
Yêu cầu trong quá trình di chuyển và dồn đuổi gia súc
- Lối đi và đường dẫn gia súc phải được thiết kế phẳng, không có các góc nhọn, vật cản hoặc tiếng ồn lớn gây hoảng sợ cho gia súc.
- Nghiêm cấm các hành vi bạo lực như đánh đập, kéo đuôi, kéo tai, hoặc dùng các vật sắc nhọn để đâm chọc gia súc.
- Hạn chế tối đa việc sử dụng roi điện. Roi điện chỉ được sử dụng trong trường hợp cực kỳ cần thiết đối với những con gia súc cứng đầu khi lối đi phía trước đã thông thoáng, và chỉ được áp dụng vào vùng cơ mông hoặc đùi, không được dùng vào các vùng nhạy cảm như mắt, mũi, tai hoặc bộ phận sinh dục.
Yêu cầu về khống chế và gây ngất gia súc
- Thiết bị khống chế gia súc trước khi gây ngất phải được thiết kế phù hợp với kích thước của từng loài, giúp giữ cố định gia súc một cách nhẹ nhàng nhưng chắc chắn, giảm thiểu tối đa sự sợ hãi và đau đớn.
- Quá trình gây ngất phải làm cho gia súc mất cảm giác ngay lập tức và duy trì trạng thái vô cảm cho đến khi chết do mất máu (chọc tiết).
- Các phương pháp gây ngất được chấp nhận bao gồm: Gây ngất bằng thiết bị cơ học (súng bắn chốt tù hoặc chốt xuyên thấu), gây ngất bằng điện (dòng điện đi qua não hoặc qua não và tim), hoặc gây ngất bằng khí carbon dioxide (CO2) đối với lợn.
- Nhân viên phải kiểm tra các dấu hiệu lâm sàng để xác nhận gia súc đã bất tỉnh hoàn toàn (như mất phản xạ giác mạc, không có nhịp thở tự nhiên, cơ thể thả lỏng) trước khi tiến hành chọc tiết.
Yêu cầu về chọc tiết và giết mổ
- Khoảng thời gian từ khi gây ngất đến khi chọc tiết phải được khống chế trong giới hạn kỹ thuật cho phép đối với từng phương pháp gây ngất để tránh trường hợp gia súc tỉnh lại trước hoặc trong khi chọc tiết.
- Kỹ thuật chọc tiết phải được thực hiện nhanh chóng, chính xác bằng dao sắc để cắt đứt hai động mạch cảnh hoặc các mạch máu chính gần tim, đảm bảo máu chảy ra nhanh, liên tục và triệt để.
- Không được thực hiện bất kỳ thao tác chế biến hoặc lột da, xẻ thịt nào khi gia súc chưa chết hoàn toàn (ngừng tim và ngừng thở hoàn toàn).
Hiệu lực thi hành
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13905-1:2023 có hiệu lực kể từ ngày công bố. Các cơ sở giết mổ gia súc hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam được khuyến khích và yêu cầu từng bước áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật này nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm thịt, đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu và nhân đạo hóa hoạt động giết mổ động vật.
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 13905-1:2023
PHÚC LỢI ĐỘNG VẬT – GIẾT MỔ - PHẦN 1: GIA SÚC
Animal welfare – Slaughter - Part 1: Livestock
Lời nói đầu
TCVN 13905-1:2023 do Cục Thú y biên soạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Bộ tiêu chuẩn TCVN 13905 Phúc lợi động vật - Giết mổ gồm các tiêu chuẩn:
- TCVN 13905-1:2023, Phần 1: Gia súc.
PHÚC LỢI ĐỘNG VẬT – GIẾT MỔ - PHẦN 1: GIA SÚC
Animal welfare - Slaughter - Part 1: Livestock
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định những nguyên tắc và các yêu cầu để bảo đảm phúc lợi động vật đối với gia súc (bao gồm: trâu, bò, ngựa, dê, cừu và lợn) trước khi giết mổ và trong quá trình giết mổ tại các cơ sở giết mổ, cho đến khi con vật chết.
2 Thuật ngữ và định nghĩa
Trong tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ, định nghĩa trong TCVN 13904-1:2023 Phúc lợi động vật - Vận chuyển - Phần 1: Trâu, bò và các thuật ngữ, định nghĩa sau đây:
2.1
Cầu dẫn (Ramp)
Một kết cấu đường dốc có lan can, sử dụng để bốc dỡ gia súc.
2.2
Nhốt giữ (Lairaging)
Việc nhốt giữ động vật trong bãi quây, chuồng nhốt giữ, khu vực có mái che hoặc sân trước khi giết mổ.
2.3
Cố định (Restraint)
Quy trình được áp dụng để hạn chế sự chuyển động của gia súc nhằm giảm thiểu mọi đau đớn, sợ hãi hoặc kích động gia súc để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kích ngất và chọc tiết hiệu quả.
2.4
Kích ngất/gây choáng (Stunning)
Phương pháp làm cho gia súc bất tỉnh và không cảm nhận được sự đau đớn.
CHÚ THÍCH: Có ba phương pháp kích ngất: kích ngất bằng cơ học (sử dụng thiết bị chốt hãm), kích ngất bằng điện và kích ngất bằng khí (Xem Phụ lục C).
2.5
Chọc tiết (Sticking)
Việc cắt cổ một con vật bằng một con dao rất sắc, để cắt đứt các mạch máu chính ở cổ và ngực cung cấp cho não, đảm bảo mất máu (tháo tiết) nhanh chóng và do đó dẫn đến tử vong.
2.6
Giết mổ (Slaughtering)
Việc làm chết động vật nhằm tạo ra các sản phẩm để phục vụ tiêu dùng cho con người bao gồm việc kích ngất, chọc tiết và tháo tiết động vật.
2.7
Giết mổ nhân đạo (Humane slaughtering)
Việc giết mổ theo cách làm động vật bất tỉnh nhanh chóng và để con vật chết trong tình trạng không bị đau đớn và khổ sở.
2.8
Giết mổ khẩn cấp (Emergency slaughter)
Việc giết mổ đối với động vật bị thương hoặc mắc bệnh và đang chịu đau đớn hoặc tình trạng trở nên xấu đi trừ khi được làm chết ngay lập tức.
2.9
Giết mổ theo nghi thức tôn giáo (Ritual slaughter)
Việc giết mổ động vật để phù hợp với nghi thức của một số tôn giáo, ví dụ:
a) Phù hợp với nghi thức đạo Hồi để sản xuất thịt Halal; hoặc
b) Phù hợp với nghi thức đạo Do Thái để sản xuất thịt Kosher.
3 Nguyên tắc chung
Việc quản lý phúc lợi động vật trong quá trình giết mổ cần bảo đảm:
a) Cơ sở vật chất và thiết bị được thiết kế, duy trì để đảm bảo không cản trở hoặc gây căng thẳng cho gia súc;
b) Tất cả nhân viên chịu trách nhiệm bốc dỡ, lùa dẫn, cố định, kích ngất và giết mổ gia súc đều phải có năng lực phù hợp với các yêu cầu nêu trong tiêu chuẩn này;
c) Gia súc ốm yếu, bị thương cần được nhận biết và xử lý kịp thời một cách nhân đạo;
d) Gia súc được chăm sóc để giảm thiểu căng thẳng và thương tích;
đ) Thực hiện các quy trình bốc dỡ, lùa dẫn, cố định, kích ngất và giết mổ một cách nhân đạo và hiệu quả.
4 Yêu cầu về thiết kế cơ sở vật chất và trang thiết bị
4.1 Yêu cầu về thiết kế và xây dựng cầu dẫn
4.1.1 Các cầu dẫn phải được xây dựng và thiết kế đảm bảo thuận lợi trong việc lùa dẫn gia súc, không gây thương tích, làm bẩn hoặc đau đớn cho gia súc.
4.1.2 Ở phía trên cùng [1] của cầu dẫn phải có một sàn bằng phẳng (chiếu nghỉ) với chiều dài ≥ 1 m và có độ cao tương đương với sàn thùng xe. Trường hợp cầu dẫn có nhiều tầng thì cần có đường dẫn cố định cho mỗi tầng chính. Ngoài ra, có thể điều chỉnh đường dốc để phù hợp với đặc điểm di chuyển của từng loài gia súc. Cầu dẫn có nhiều tầng thì không được sử dụng các đường dốc liên sàn để dỡ gia súc xuống.
4.1.3 Độ dốc của cầu dẫn không được quá 20°. Bề mặt cầu dẫn phải được làm bằng vật liệu chống trơn trượt, cầu dẫn bằng bê tông có mấu đan chéo, hình lưới hoặc rãnh chéo hoặc hình kim cương giúp cho động vật bám chặt hơn khi đi, đặc biệt khi cầu dẫn bị ướt. Các mắt lưới cần được cố định, đảm bảo không tổn hại đến chân động vật. Trường hợp sử dụng các bậc thang để gia súc bước xuống phải đảm bảo mỗi bậc thang có bề rộng khoảng 500 mm, chiều cao khoảng 100 mm đối với trâu, bò và ngựa; bề rộng khoảng 300 mm, chiều cao khoảng 90 mm đối với dê, cừu và lợn.
4.1.4 Chiều rộng sàn trên của cầu dẫn (chỗ tiếp giáp với thùng xe) ít nhất phải rộng bằng cửa thùng xe. Các cửa thùng xe càng rộng càng tốt. Khi dỡ gia súc từ tàu hỏa, các dãy cầu dẫn dỡ gia súc rất hữu ích. Nếu các dãy cầu dẫn đủ dài thì nhiều toa xe có thể được dỡ tải đồng thời.
4.1.5 Chiều cao tối thiểu sàn cầu dẫn tính từ mặt đất và chiều rộng tối thiểu đường dẫn gia súc theo khuyến cáo tại Phụ lục A.
4.1.6 Các vách ngăn bên trong của đường dẫn cần phải nhẵn và được thiết kế để gia súc không thể nhìn thấy các hoạt động bên ngoài đường dẫn và không bị thương do cọ xát. Các chấn song trong phương tiện vận chuyển và đường dẫn phải nhẵn, không có các chỗ lồi nhọn có thể làm gia súc bị thương.
4.1.7 Có lối đi ở bên ngoài của cầu dẫn để tạo thuận lợi cho người lùa dẫn gia súc, đặc biệt đối với các đường dẫn có mái che và đường dẫn nhiều tầng.
4.2 Yêu cầu bãi quây nhốt, chuồng nhốt giữ
4.2.1 Bãi quây nhốt, chuồng nhốt giữ phải thiết kế phù hợp với từng loài gia súc, có đủ không gian cho số lượng gia súc tập kết để cho chúng có thể xoay xung quanh, đứng lên hoặc nằm xuống hoặc có thể trốn tránh trong trường hợp bị con gia súc khác đe dọa. Mật độ nhốt gia súc trong bãi quây nhốt, chuồng nhốt giữ theo khuyến cáo tại Phụ lục A.
4.2.2 Đảm bảo có đủ bãi quây nhốt, chuồng nhốt giữ, đường dẫn và lối đi để khi dỡ gia súc tránh lẫn lộn các loài khác nhau, giới tính khác nhau, hoặc các nhóm hoặc các cá thể không quen thuộc của cùng một loài dẫn tới việc đánh nhau gây ra chấn thương và căng thẳng. Điều này đặc biệt quan trọng với lợn.
4.2.3 Bãi quây nhốt, chuồng nhốt giữ cần đặt cách xa những khu vực mà gia súc có thể liên tục bị xáo trộn bởi việc liên tục nhập đàn gia súc hoặc quá trình di chuyển gia súc đến khu vực giết mổ. Hàng rào và cổng phải có chiều cao phù hợp, bề mặt nhẵn đảm bảo gia súc không thoát ra hoặc nhảy qua các ô chuồng khác và gây thương tích cho chúng.
4.2.4 Chuồng nhốt giữ được thiết kế các ô chuồng dài, hẹp để gia súc di chuyển một cách nhẹ nhàng và theo một chiều đến khu vực giết mổ, tường và cửa phải nhẵn và không bị lồi lõm gây thương tích cho gia súc.
Chuồng nhốt giữ phải có mái che một phần hoặc toàn bộ, có nơi trú ẩn, bóng mát và cần có các trang thiết bị thích hợp như vòi phun nước, bình xịt, chắn gió để bảo vệ gia súc khỏi tác động bất lợi của môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, gió và ánh nắng, cần cung cấp trang thiết bị phun sương để làm mát gia súc trong chuồng nhốt giữ để ngăn ngừa tăng thân nhiệt.
4.2.5 Sàn chuồng phải thoát nước tốt, không trơn trượt, không gây thương tích cho chân của gia súc. Khi cần thiết, sàn phải được cách nhiệt hoặc lót nền thích hợp. Lưới thoát nước cần được đặt ở cạnh chuồng và lối đi, và tránh nơi gia súc di chuyển qua lại. Cần tránh những khác biệt hoặc thay đổi về màu sắc, hoa văn hoặc kết cấu của sàn, tường hoặc cổng có thể gây ra mất tập trung cho gia súc khi di chuyển.
4.2.6 Lối đi và đường dẫn trong bãi quây nhốt hoặc chuồng nhốt giữ, phải được bố trí sao cho có thể kiểm tra gia súc bất cứ lúc nào để kịp thời phát hiện và di chuyển hoặc tách riêng những gia súc mắc bệnh, bị thương hoặc bị ốm.
4.2.7 Các lối đi và đường dẫn phải được thiết kế thẳng hoặc cong đều, giảm thiểu các chỗ gấp góc đột ngột để tránh gia súc mất tập trung khi di chuyển qua, sàn chống trơn trượt và phù hợp cho từng loài gia súc. Lối đi và đường dẫn cần có hai bên vách vững chắc, nhưng khi có đường dẫn đôi, vách ngăn ở giữa cần cho phép các con vật liền kề ở hai bên có thể nhìn thấy nhau. Tại điểm mà các lối đi bị hẹp lại thi cần được thiết kế đảm bảo tránh dồn ứ động vật quá mức.
Các đường dẫn đơn lẻ cho gia súc chỉ vừa đủ rộng sao cho gia súc không quay trở lại được (700 mm đối với trâu, bò và ngựa trưởng thành, 400 mm đối với bê nghé, ngựa con và 500 mm đối với dê, cừu và lợn). Đối với dê, cừu và lợn, lối đi nên để cho hai hoặc nhiều con vật đi cạnh nhau càng lâu càng tốt. Tại điểm mà các lối đi bị hẹp lại, thì cần được thiết kế đảm bảo tránh dồn ứ gia súc quá mức.
4.2.8 Khu chuồng nhốt giữ phải được thông gió đầy đủ để đảm bảo rằng khí thải (ví dụ: amoniac) không tích tụ và giảm thiểu nồng độ khí độc ở tầm cao của gia súc. Hệ thống thông gió phải có khả năng ứng phó với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau và số lượng gia súc được nhốt giữ mà cơ sở dự kiến sẽ chứa.
4.2.9 Có hệ thống cung cấp nước uống ở bãi quây nhốt, chuồng nhốt giữ và được thiết kế, lắp đặt sao cho giảm thiểu chấn thương cho gia súc, được giữ sạch sẽ và các thiết bị tự động cần được kiểm tra hằng ngày để đảm bảo hoạt động tốt. Áp lực nước phải đủ để giữ cho máng uống luôn đầy hoặc vòi uống luôn có nước.
Máng uống hoặc vòi uống nước phải được cố định chắc chắn và thành bên đủ cao để tránh dính phân, luôn được giữ sạch sẽ, có kích thước và vị trí phù hợp để cho phép tất cả gia súc có thể được uống nước trong vòng 1 h sau khi vận chuyển đến cơ sở.
4.2.10 Hệ thống chiếu sáng phải được bố trí phù hợp để cung cấp ánh sáng đồng đều tại các khu dỡ gia súc, cầu dẫn, đường dẫn, lối đi, sân, bãi quây nhốt, chuồng nhốt giữ và khu vực giết mổ để hỗ trợ gia súc di chuyển và kiểm tra lâm sàng.
4.3 Yêu cầu đối với thiết bị, dụng cụ
4.3.1 Đảm bảo thiết bị, dụng cụ luôn có sẵn, hoạt động tốt và phù hợp với từng loài, lứa tuổi, giới tính và kích cỡ của gia súc.
4.3.2 Có đầy đủ hướng dẫn sử dụng, đặc biệt là thiết bị kích ngất bằng điện tại các vị trí thao tác và dễ quan sát.
4.3.3 Các thiết bị phải được thường xuyên kiểm tra, làm sạch, bảo dưỡng, vận hành và bảo quản theo thông số kỹ thuật của nhà sản xuất.
4.3.4 Thiết bị cố định gia súc được thiết kế và duy trì để cố định gia súc một cách hiệu quả giảm thiểu sự căng thẳng của gia súc.
4.3.5 Buồng kích ngất bằng khí được trang bị đồng hồ để đo và hiển thị nồng độ khí cacbonic (CO2) và theo dõi thời gian tiếp xúc của gia súc. Quan sát thường xuyên để đảm bảo nồng độ khí duy trì ở giới hạn tối ưu và cần thực hiện hành động khắc phục ngay lập tức nếu nồng độ khí giảm xuống dưới mức yêu cầu.
4.3.6 Phải có thiết bị kích ngất dự phòng hoạt động tốt và phù hợp với loài gia súc đang được giết mổ.
5 Yêu cầu đối với việc lùa dẫn và quản lý gia súc
5.1 Yêu cầu về việc sử dụng dụng cụ hỗ trợ lùa dẫn gia súc
5.1.1 Gậy và roi điện (sử dụng pin)
• Hạn chế tối đa việc sử dụng dụng cụ này để lùa dẫn gia súc.
• Không được sử dụng liên tục dụng cụ này đối với gia súc có ít hoặc không có không gian để di chuyển. Trong những trường hợp như vậy, người lùa dẫn cần tính đến các yếu tố gây trở ngại đến sự di chuyển của gia súc.
• Không được sử dụng dụng cụ này trên các vùng nhạy cảm như mắt, miệng, tai, vùng hậu môn sinh dục hoặc bụng của gia súc.
• Chỉ được sử dụng đối với trâu, bò trên 3 tháng tuổi và lợn trưởng thành. Không sử dụng dụng cụ này đối với ngựa, cừu và dê ở mọi lứa tuổi.
5.1.2 Các dụng cụ như bảng, cờ, mái chèo bằng nhựa, vỉ [2], túi nhựa và lục lạc bằng kim loại
Sử dụng phù hợp để khuyến khích và hướng sự di chuyển của gia súc mà không gây căng thẳng quá mức. Đối với lợn, có thể sử dụng tấm ván có tay cầm (kích thước khoảng 900 mm x 600 mm), cờ, mái chèo nhựa, vỉ để lùa dẫn.
5.1.3 Không được phép sử dụng gậy bằng nhựa nặng cứng, ống kim loại hoặc dây đai bằng da cứng để lùa dẫn gia súc.
5.2 Dỡ và lùa dẫn gia súc
5.2.1 Cần lập kế hoạch trước các thủ tục tiếp nhận và dỡ gia súc xuống để đảm bảo việc lùa dẫn gia súc một cách nhẹ nhàng và cẩn thận. Người lập kế hoạch cần biết được thời gian giao gia súc, phân bổ chuồng hoặc khu vực nhốt và giao trách nhiệm cho các nhân viên có liên quan. Các nhân viên này phải nhận trách nhiệm thực hiện việc tiếp nhận và dỡ gia súc xuống dù là trong kế hoạch hay ngoài kế hoạch.
5.2.2 Phương tiện vận chuyển phải được căn chỉnh chính xác với mép và thành của cầu dẫn, sao cho không có những khoảng trống giữa thành xe và cầu dẫn. Sử dụng một tấm giảm chấn linh hoạt giữa xe và cầu dẫn nhằm loại bỏ các khoảng trống. Cửa xe cần được căn chỉnh phù hợp với cầu dẫn để đảm bảo gia súc di chuyển nhẹ nhàng và giảm thiểu chấn thương.
5.2.3 Gia súc phải được dỡ xuống càng sớm càng tốt sau khi đến nơi. Chúng cần được di chuyển nhẹ nhàng để không bị thương.
5.2.4 Việc lùa dẫn gia súc từ phương tiện vận chuyển xuống chỉ được thực hiện bởi những người có kinh nghiệm.
5.2.5 Việc lùa dẫn cần hạn chế gây căng thẳng, giảm thiểu các kích thích liên quan đến thị giác và thính giác của gia súc. Không được kéo hoặc nhấc sừng, chân, tai, đuôi hoặc túm lông của gia súc trong quá trình dỡ và lùa dẫn gia súc.
5.2.6 Phải có phương án xử lý với những con vật ngã hoặc nằm xuống trong các lối đi, đường dẫn hay buồng cố định. Không được lôi kéo gia súc vào buồng cố định.
5.3 Lùa dẫn và xử lý trong trường hợp gia súc chây ì, bị chấn thương hoặc ốm
5.3.1 Khi dỡ gia súc xuống cần quan sát kỹ lưỡng để phát hiện những con gia súc bị chấn thương hoặc mắc bệnh trong quá trình vận chuyển. Trường hợp có gia súc bị chấn thương, cần dỡ những con khỏe mạnh trước và dỡ một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nhất có thể để giết mổ khẩn cấp đối với những con gia súc bị chấn thương nặng. Những con bị thương nhẹ, không bị đau đớn cần được đánh giá của người có chuyên môn của cơ sở và nhân viên thú y thực hiện kiểm soát giết mổ để quyết định phương án xử lý phù hợp.
5.3.2 Đối với gia súc cần giết mổ khẩn cấp phải thực hiện ngay bằng cách kích ngất và chọc tiết mà không cần di chuyển chúng xa hơn mức cần thiết để đảm bảo giết mổ nhân đạo. Không được nhấc, kéo gia súc còn sống bằng sừng, lông, tai, đuôi hoặc chân. Nhân viên thú y phải có mặt để đảm bảo rằng động vật được kiểm tra trước khi giết mổ.
5.3.3 Đối với gia súc bị thương nhẹ, không gây nhiều đau đớn thi không cần phải giết mổ ngay nhưng cần tiến hành càng sớm càng tốt trong ngày được vận chuyển đến cơ sở.
5.3.4 Đối với gia súc bị thương hoặc ốm mà theo đánh giá của người có chuyên môn về thú y là có thể để nghỉ ngơi hoặc điều trị thì cần được nhốt trong ô chuồng riêng. Cung cấp đầy đủ nước, thức ăn, bóng mát và có phương pháp điều trị thích hợp, việc giết mổ có thể trì hoãn cho đến khi con vật hồi phục. Trong trường hợp sử dụng thuốc thú y điều trị thì cần thông báo với nhân viên thú y về các loại thuốc và tuân thủ thời gian ngừng sử dụng trước khi giết mổ theo hướng dẫn đối với các loại thuốc đó.
5.3.5 Không được quấn, trói, buộc hoặc kéo gia súc đang bị thương từ phương tiện vận chuyển lên các phương tiện khác để di chuyển đến khu vực giết mổ.
5.3.6 Người lái xe hoặc người có trách nhiệm tiếp nhận đàn gia súc cần có thông tin (tên, số điện thoại...) của chủ gia súc. Điều này đảm bảo các hành động khẩn cấp được quyết định kịp thời khi có sự trì hoãn hoặc trong đàn có gia súc bị thương.
5.4 Quản lý gia súc trong thời gian nhốt giữ
5.4.1 Tách riêng gia súc
5.4.1.1 Không nhốt chung gia súc thuộc các loài khác nhau. Trong cùng một loài, nếu được đưa đến khu nuôi nhốt theo các lô khác nhau thì cần phân loại theo các nhóm như sau:
a) Gia súc non (bê nghé, dê con, cừu con, lợn sữa...);
b) Gia súc có sừng ngắn hoặc không có sừng hoặc đã cưa sừng;
c) Gia súc khác nhau đáng kể về kích thước cơ thể;
d) Gia súc đực trưởng thành.
5.4.1.2 Tách riêng các gia súc đực trưởng thành trong trường hợp dỡ gia súc xuống của nhiều đàn khác nhau cùng một thời gian.
5.4.1.3 Không nhốt chung các gia súc không cùng đàn, đặc biệt đối với lợn.
5.4.2 Chăm sóc gia súc
5.4.2.1 Đảm bảo gia súc nhốt trong chuồng phải luôn được tiếp cận với nước sạch.
5.4.2.2 Hằng ngày làm sạch bãi quây, chuồng nhốt giữ, thiết bị, dụng cụ đựng thức ăn và nước uống.
5.4.2.3 Bảo vệ gia súc khỏi tiếng ồn quá mức hoặc tiếng ồn gây khó chịu như thiết bị thủy lực hoặc khí nén gây ồn. Cần làm giảm tiếng ồn của các thiết bị kim loại bằng việc sử dụng lớp đệm thích hợp, hoặc giảm thiểu sự lan truyền những tiếng ồn đó đến khu vực nhốt giữ và giết mổ gia súc.
5.4.2.4 Khi gia súc bị nhốt qua ngày, phải cung cấp thức ăn để chúng không bị sụt cân và chống chịu được tác động bất lợi của môi trường như thời tiết lạnh, ẩm ướt.
5.4.3 Thời gian nhốt giữ gia súc
5.4.3.1 Người quản lý gia súc căn cứ vào các yêu cầu như diện tích khu vực nhốt giữ, sự cần thiết phải nghỉ ngơi, việc cung cấp thức ăn, nước uống sẽ quyết định thời gian nuôi nhốt sau khi gia súc vận chuyển đến cơ sở.
5.4.3.2 Để đảm bảo chất lượng thân thịt, thời gian gia súc cần được nghỉ ngơi tối thiểu 2 h trước khi giết mổ từ khi đến cơ sở, ngoại trừ bê, nghé và dê cừu non chưa cai sữa.
5.4.3.3 Gia súc nhai lại bị căng thẳng hoặc đã được vận chuyển lâu hơn 6 h cần được nghỉ ngơi đến hồi phục trước khi giết mổ.
5.4.3.4 Lợn cần được giết mổ càng sớm càng tốt sau thời gian nghỉ ngơi ổn định từ lúc dỡ xuống khỏi phương tiện vận chuyển.
5.4.3.5 Bê, nghé, dê con, cừu con được giết mổ càng sớm càng tốt sau khi đến cơ sở giết mổ.
5.4.3.6 Trường hợp gia súc nhốt giữ qua ngày thì cần kiểm tra ít nhất 24 h một lần, đảm bảo những gia súc bị thương, mắc bệnh hoặc căng thẳng được chăm sóc phù hợp theo hướng dẫn của bác sỹ thú y hoặc người có thẩm quyền.
6 Yêu cầu đối với việc giết mổ nhân đạo
6.1 Cố định
6.1.1 Nên sử dụng băng tải hình chữ V có thể điều chỉnh độ rộng với thiết kế và kích thước phù hợp cho từng loài gia súc để cố định và đưa gia súc vào vị trí kích ngất. Băng tải loại này tạo điều kiện kích ngất hiệu quả, đảm bảo phúc lợi động vật.
6.1.2 Buồng cố định đối với trâu, bò hoặc ngựa chỉ vừa đủ rộng để chứa một con gia súc sao cho nó không quay đầu lại được và phải đủ dài để con vật trong đó thấy thoải mái. Các buồng cố định này cũng cần được điều chỉnh linh hoạt để sử dụng với gia súc nhỏ hơn. Buồng cố định cần được sẵn sàng và nhanh chóng cố định đầu của gia súc để kích ngất, dễ tháo dỡ để dễ dàng tiếp cận với gia súc đã gục xuống, nằm xuống hoặc bất tỉnh sau khi kích ngất.
6.1.3 Khuyến khích sử dụng hệ thống hoặc thiết bị chụp đầu gia súc để thuận lợi cho việc kích ngất.
6.1.4 Không lùa gia súc vào buồng cố định kích ngất nếu chưa kích ngất ngay. Băng tải và đường dẫn đến buồng cố định cần được làm trống, đảm bảo thông thoáng trước khi đưa gia súc khác vào và không gây cản trở khi gia súc di chuyển vào. Khi lùa dẫn gia súc vào khu vực giết mổ không được để chúng nhìn những con khác đã bị giết mổ trước hoặc nhìn thấy hình ảnh quá trình giết mổ.
6.1.5 Gia súc phải được cố định ở một không gian hạn chế di chuyển để đảm bảo kích ngất gia súc hiệu quả khi sử dụng thiết bị chốt hãm cầm tay.
6.2 Kích ngất
6.2.1 Yêu cầu chung
6.2.1.1 Khi gia súc đã được cố định cần kích ngất càng sớm càng tốt, thiết bị kích ngất được sử dụng đúng cách và được điều chỉnh để phù hợp với từng loài và kích cỡ của gia súc.
6.2.1.2 Không kích ngất cho gia súc trong chuồng nuôi nhốt khi gia súc chưa được cố định phù hợp.
6.2.1.3 Đảm bảo luôn có thiết bị kích ngất dự phòng trong trường hợp cần thiết.
6.2.1.4 Trường hợp giết mổ theo nghi thức tôn giáo có thể kích ngất bằng cách sử dụng phương pháp cơ học (thiết bị chốt hãm không thâm nhập) hoặc bằng điện. Dự phòng thiết bị chốt hãm thâm nhập cầm tay để kích ngất trong trường hợp kích ngất lần đầu không hiệu quả.
6.2.1.5 Phải đảm bảo gia súc bất tỉnh trước chọc tiết.
6.2.2 Kích ngất đối với trâu, bò, ngựa
Nên sử dụng phương pháp kích ngất cơ học bằng thiết bị chốt hãm. Trường hợp kích ngất bằng điện thì ưu tiên dùng kỹ thuật kích ngất từ đầu xuống thân để tránh hồi tỉnh trong khi tháo tiết và sử dụng thiết bị kích ngất đảm bảo các thông số kỹ thuật về điện (điện áp 400 V, cường độ dòng điện 1,5 A với thời gian kích ngất tối thiểu là 3 s). Đối với ngựa chỉ nên sử dụng sử dụng phương pháp kích ngất cơ học bằng thiết bị chốt hãm. Vị trí kích ngất xem ở Phụ lục C.
6.2.3 Kích ngất đối với bê, nghé
Ưu tiên sử dụng phương pháp kích ngất cơ học bằng thiết bị chốt hãm. Trường hợp kích ngất bằng điện phải sử dụng phương pháp kích ngất vùng đầu và thân. Thiết bị kích ngất phải đảm bảo các thông số kỹ thuật về điện (điện áp 400 V, cường độ dòng điện 1,0 A với thời gian kích ngất tối thiểu là 3 s).
6.2.4 Kích ngất đối với cừu và dê
Có thể sử dụng bằng thiết bị chốt hãm hoặc kích ngất vùng đầu bằng điện. Trong trường hợp sử dụng phương pháp kích ngất bằng điện thì thiết bị kích ngất đảm bảo các thông số kỹ thuật về điện:
a) Dê, cừu trưởng thành: điện áp 400 V, cường độ dòng điện 1,0 A;
b) Dê, cừu non: điện áp 400 V, cường độ dòng điện 0,6 A;
c) Thời gian kích ngất tối thiểu là 3 s.
6.2.5 Kích ngất đối với lợn
6.2.5.1 Chỉ nên kích ngất bằng điện hoặc bằng khí.
6.2.5.2 Kích ngất bằng điện có thể sử dụng phương pháp kích ngất vùng đầu bằng điện hoặc kích ngất vùng đầu kết hợp lồng ngực, sử dụng thiết bị kẹp ngang đầu hoặc thiết bị hai chỏm được áp vào đầu gần não đảm bảo các thông số kỹ thuật: điện áp 400 V, cường độ dòng điện 1,3 A với thời gian kích ngất tối thiểu là 3 s. Không nên sử dụng điện áp thấp hơn, nhưng nếu sử dụng (ví dụ điện áp 100 V đối với lợn) thì phải tuân thủ khuyến cáo của nhà sản xuất để cung cấp dòng điện có cường độ thích hợp, đảm bảo hiệu quả kích ngất. Điện áp cao hơn có thể làm lợn chết.
6.2.5.3 Trường hợp kích ngất bằng khí CO2 thì phải đảm nồng độ CO2 để gây mê tốt nhất nên là 90 % theo thể tích nhưng trong mọi trường hợp thì không được thấp hơn 80 % theo thể tích. Sau khi vào buồng kích ngất, các con vật phải được chuyển đến điểm có nồng độ khí tối đa ngay lập tức. Lợn phải được tiếp xúc với CO2 tối thiểu là 100 s và tốt nhất được tiếp xúc trong 180 s.
CHÚ THÍCH: Hiện tại, khí CO2 được sử dụng phổ biến cho phương pháp kích ngất này. Có thể sử dụng hỗn hợp khí khác để kích ngất nếu thích hợp.
6.2.5.4 Việc kích ngất cơ học đối với lợn chỉ áp dụng trong tình huống đặc biệt và sử dụng thiết bị chốt hãm thâm nhập, chẳng hạn như giết mổ khẩn cấp lợn mắc bệnh hoặc bị thương hoặc để kích ngất lợn nái hoặc lợn đực khối lượng lớn.
6.3 Chọc tiết
6.3.1 Thời gian tối đa từ khi kích ngắt đến khi chọc tiết căn cứ vào phương pháp kích ngất, loài gia súc và cách chọc tiết. Trong mọi trường hợp, cần áp dụng các giới hạn thời gian sau đây:
6.3.1.1 Phương pháp bằng thiết bị chốt hãm:
a) Thiết bị chốt hãm thâm nhập: 60 s;
b) Thiết bị chốt hãm không thâm nhập: 30 s.
6.3.1.2 Phương pháp kích ngất bằng điện:
a) Trâu, bò, ngựa: 20 s;
b) Bê, nghé: 10 s;
c) Dê, cừu: 25 s;
d) Lợn: 20 s.
6.3.1.3 Phương pháp kích ngất bằng khí CO2 (đối với lợn): Trong vòng 60 s sau khi rời khỏi buồng.
6.3.2 Khi chọc tiết phải đảm bảo cắt đứt các mạch máu lớn ở cả hai bên cổ hoặc các mạch lớn gần tim của gia súc.
6.3.3 Phải có nhân viên quan sát, kiểm tra và tiếp cận gia súc trong suốt thời gian tháo tiết. Trong trường hợp gia súc có dấu hiệu hồi tỉnh, cần thực hiện kích ngất lại.
6.3.4 Gia súc nên được chọc tiết trước khi treo hoặc cẩu lên để tránh con vật tỉnh lại và tháo tiết trong thời gian móc lên dây chuyền.
6.3.5 Không được nhúng gia súc vào nước nóng hoặc thực hiện lột da cho đến khi tất cả các phản xạ của não chấm dứt.
7 Yêu cầu đối với nhân viên bốc dỡ, lùa dẫn, chăm sóc, cố định, kích ngất, chọc tiết hoặc treo, cẩu gia súc
7.1 Được đào tạo, tập huấn về kiến thức phúc lợi động vật, kỹ năng sử dụng các loại thiết bị, dụng cụ.
7.2 Có khả năng vận hành thành thạo, an toàn tất cả các thiết bị, dụng cụ liên quan và chịu trách nhiệm bảo quản, bảo dưỡng thiết bị đúng cách để đảm bảo hiệu quả ổn định.
7.3 Những người thực hiện lùa dẫn gia súc có năng lực quan sát, nhận biết các hành vi bất thường, bị thương hoặc dấu hiệu căng thẳng ở gia súc và có khả năng thực hiện hành động khắc phục sự cố khi cần thiết.
7.4 Những người thực hiện kích ngất phải có khả năng nhận biết con vật không được kích ngất hiệu quả để có hành động thích hợp.
Phụ lục A
(Tham khảo)
Khuyến cáo về đặc điểm kỹ thuật của cầu dẫn và mật độ gia súc nhốt trong chuồng
A.1 Chiều cao tối thiểu của sàn cầu dẫn tính từ mặt nền
A.1.1 Đối với cầu dẫn có khoang đơn cố định và khoang dưới khi xe có hai tầng đối với tất cả các loài gia súc: 1 170 mm.
A.1.2 Đối với cầu dẫn có trên hai tầng:
a) Trâu, bò, ngựa: 2 845 mm;
b) Dê, cừu, lợn: 2 100 mm.
A.2 Chiều rộng bên trong tối thiểu của cầu dẫn đối với mỗi loại gia súc
a) Trâu, bò, ngựa: 760 mm;
b) Dê, cừu: 500 mm.
c) Lợn: 900 mm (cho phép 2 con lợn đi song song).
A.3 Mật độ gia súc nhốt trong chuồng
Mật độ gia súc nhốt trong chuồng trước khi giết mổ tham khảo Bảng A.1.
Bảng A.1 - Mật độ gia súc nhốt trong chuồng
| Trâu, bò, ngựa | Lợn | Dê, cừu | |||
| Khối lượng (kg) | Mật độ | Khối lượng (kg) | Mật độ | Khối lượng (kg) | Mật độ |
| 30 đến 50 | 0,21 đến 0,35 | 30 đến 50 | 0,26 đến 0,42 | 30 đến 50 | 0,21 đến 0,32 |
| 50 đến 100 | 0,35 đến 0,58 | 50 đến 80 | 0,42 đến 0,55 | 50 đến 100 | 0,32 đến 0,54 |
| 100 đến 150 | 0,58 đến 0,80 | 80 đến 100 | 0,55 đến 0,64 | 100 đến 150 | 0,54 đến 0,71 |
| 150 đến 200 | 0,80 đến 0,97 | 100 đến 120 | 0,64 đến 0,73 | 150 trở lên | 0,71 đến 0,90 |
| 200 đến 300 | 0,97 đến 1,26 | 120 đến 140 | 0,73 đến 0,78 | - | - |
| 300 đến 400 | 1,26 đến 1,51 | 140 đến 160 | 0,78 đến 0,85 | - | - |
| 400 đến 500 | 1,51 đến 1,74 | 160 đến 200 | 0,85 đến 0,97 | - | - |
| 500 đến 600 | 1,74 đến 1,96 | - | - | - | - |
| 600 đến 700 | 1,96 đến 2,16 | - | - | - | - |
| 700 trở lên | 2,16 đến 2,26 | - | - | - | - |
Phụ lục B
(Tham khảo)
Thiết bị kích ngất gia súc
B.1 Thiết bị chốt hãm
Các thiết bị chốt hãm dùng để kích ngất gia súc được nêu trong Hình B.1.
|
a) Thiết bị chốt hãm kích ngất thâm nhập |
b) Thiết bị chốt hãm kích ngất không thâm nhập |
|
c) Thiết bị chốt hãm kích ngất sử dụng khí nén cố định |
d) Thiết bị chốt hãm kích ngất sử dụng viên tạo áp |
Hình B.1 - Thiết bị chốt hãm dùng để kích ngất gia súc
B.2 Thiết bị kích ngất bằng điện
Các thiết bị kích ngất bằng điện được nêu trong Hình B.2
|
a) Thiết bị kích ngất vùng đầu bằng điện cầm tay |
b) Buồng kích ngất vùng đầu kết hợp lồng ngực |
Hình B.2 - Thiết bị kích ngất bằng điện
Phụ lục C
(Tham khảo)
Vị trí kích ngất đối với gia súc và và dấu hiệu của kích ngất
C.1 Vị trí kích ngất bằng thiết bị chốt hãm
Khi sử dụng thiết bị chốt hãm, cần phải hướng vào điểm giao nhau của các đường chéo lấy từ gốc của mỗi tai đến mắt đối diện. Đảm bảo chốt hãm phải được đi theo hướng như hình mũi tên để gây phá não. Các hình vẽ dưới đây mang tính đại diện và cần tính đến sự khác biệt về giải phẫu của từng cá thể.
a) Vị trí kích ngất đối với trâu: xem Hình C.1.

CHÚ DẪN:
(A) Vị trí kích ngất ở trán; (B) Vị trí kích ngất ở đầu.
----- là điểm nhắm vào
→ là hướng nhắm cho các vị trí (kích ngất).
Hình C.1 - Vị trí kích ngất đối với trâu bằng thiết bị chốt hãm
b) Vị trí kích ngất đối với bò: xem Hình C.2.
|
a) Bò có sừng |
a) Bò không có sừng |
CHÚ DẪN:
(A) Vị trí đối kích ngất ở trán; (B) Vị trí kích ngất ở đầu; (C) Vị trí kích ngất ở thái dương.
----- là điểm nhắm vào;
→ là hướng nhắm cho các vị trí (kích ngất).
Hình C.2 - Vị trí kích ngất đối với bò bằng thiết bị chốt hãm
c) Vị trí kích ngất đối với dê: xem Hình C.3.

CHÚ DẪN:
(A) Hướng kích ngất ở trán; (B) Hướng kích ngất ở đầu.
----- là điểm nhắm vào; → là hướng nhắm cho các vị trí (kích ngất).
Hình C.3 - Vị trí kích ngất đối với dê bằng thiết bị chốt hãm
d) Vị trí kích ngát đối với cừu: xem Hình C.4. Khuyến khích sử dụng thiết bị cầm tay tầm gần cho các vị trí phía trước hoặc đầu của cừu. Đối với phương pháp kích ngất ở trán, thiết bị cầm tay hoặc chốt hãm nên được hướng vào giao điểm giữa đầu và 2 đường chéo từ gốc tai đến đỉnh mắt đối diện.

CHÚ DẪN:
(A) hướng kích ngất ở trán; (B) hướng kích ngất ở đầu.
----- là điểm nhắm vào; → là hướng nhắm cho các vị trí (kích ngất).
Hình C.4 - Vị trí kích ngất đối với cừu bằng thiết bị chốt hãm
đ) Vị trí kích ngất đối với lợn: xem Hình C.5.

CHÚ DẪN:
(A) Hướng kích ngất tại trán bằng phương pháp thiết bị cầm tay và chốt hãm;
(C) hướng kích ngất ở thái dương chỉ phù hợp cho thiết bị cầm tay.
Hướng bắn ở thái dương thấp hơn ở trán. Các đường định vị đi từ gốc ngoài của tai đến mắt.
----- là điểm nhắm vào; → là hướng nhắm cho các vị trí (kích ngất).
Hình C.5 - Vị trí kích ngất đối với lợn bằng thiết bị chốt hãm
e) Vị trí kích ngất đối với ngựa: xem Hình C.6.

CHÚ DẪN: A) Hướng kích ngất ở trán.
Hình C.6 - Vị trí kích ngất đối với ngựa bằng thiết bị chốt hãm
C.2 Vị trí kích ngất bằng điện
Xem Hình C.7 về vị trí kích ngất bằng điện vùng đầu và Hình C.8 về vị trí kích ngất bằng điện vùng đầu kết hợp lồng ngực.

Hình C.7 - Vị trí kích ngất bằng điện vùng đầu đảm bảo dòng điện chạy xuyên qua não

Hình C.8 - Vị trí kích ngất bằng điện vùng đầu kết hợp lồng ngực (kích ngất 2 giai đoạn; kích ngất 3 điện cực; làm chết bằng điện)
C.3 Dấu hiệu việc kích ngất hiệu quả
C.3.1 Phương pháp kích ngất cơ học
- Con vật ngã gục ngay lập tức;
- Nhịp thở không đều;
- Cơ thể và cơ bắp trở nên co cứng;
- Không ngóc đầu lên;
- Tai buông lỏng và cụp xuống;
- Mắt đờ đẫn;
- Lưỡi bị thõng xuống và mềm nhũn;
- Không có phản xạ giác mạc (mắt);
- Không chớp mắt tự nhiên.
C.3.2 Phương pháp kích ngất bằng điện
- Con vật gục xuống ngay lập tức;
- Các giai đoạn của cơn co giật dạng động kinh phát triển khi dòng điện ngừng lại:
+ Giai đoạn 1: Giai đoạn trương lực (con vật cứng ngắc, chân co lại ngay);
+ Giai đoạn 2: Giai đoạn vô tính (động tác chèo chân trong khoảng từ 15 s đến 45 s);
+ Giai đoạn 3: Giai đoạn yên tĩnh (con vật vẫn còn ngất trước khi xuất hiện dấu hiệu hồi phục đầu tiên trong trường hợp choáng không thành công).
- Không thể sử dụng các phản xạ hoặc cử động của mắt trong giai đoạn này để đánh giá mức độ hiệu quả của việc kích ngất;
- Không có nhịp thở nhịp nhàng bình thường (quan sát hai bên sườn);
- Đôi khi xảy ra tình trạng thở hổn hển (hít vào mà không thở ra);
- Không nháy mắt tự phát.
C.3.3 Phương pháp kích ngất bằng khí
- Không chớp mắt tự nhiên;
- Không có phản xạ chạy ngang;
- Không phản ứng với các kích thích (ví dụ: véo mũi);
- Chân có thể đá, nhưng đầu và cổ phải mềm;
- Lưỡi bị thõng xuống và mềm nhũn.
Thư mục tài liệu tham khảo
[1] QCVN 01-150:2017/BNNPTNT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia - Yêu cầu vệ sinh thú y đối với cơ sở giết mổ động vật tập trung
[2] WOAH, Terrestrial Animal Health Code - Chapter 7.1 (19/07/2021)
[3] WOAH, Terrestrial Animal Health Code - Chapter 7.5 Slaughter of Animals (19/07/2021)
[4] CSIRO PUBLISHING (2007), Australian Animal Welfare Standards and Guidelines, Model Code of Practice for the Welfare of Animals - Livestock at Slaughtering Establishments.
[5] Australian Meat Industry Council (AMIC) (2009), National Animal Welfare Standards at Livestock Processing Establishments, Preparing Meat for Human Comsumption
[6] Animal Health Australia (2016), Australian Animal Welfare Standards and Guidelines for Cattle
[7] Council Regulation (EC) No 1099/2009 of 24 September 2009 on the protection of animals at the time of killing.
[8] The Welfare of Animals at the Time of Killing (England) Regulations, 2015
[9] Electrical stun kill pigs for disease control (World Animal Protection), Oct 2019
[1] Chỗ tiếp xúc với phương tiện vận chuyển.
[2] Vỉ (flapper) là cây gậy dài có dây đeo ngắn bằng da hoặc vải bạt đi kèm.
- 1 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13166-2:2020 về Truy xuất nguồn gốc - Yêu cầu đối với chuỗi cung ứng thịt gia súc và gia cầm - Phần 2: Thịt trâu và thịt bò
- 2 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13166-5:2020 về Truy xuất nguồn gốc - Yêu cầu đối với chuỗi cung ứng thịt gia súc và gia cầm - Phần 5: Thịt gia cầm
- 3 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8400-54:2022 về Bệnh động vật - Quy trình chẩn đoán - Phần 54: Bệnh tỵ thư ở gia súc
- 4 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14418:2025 (ISO 23781:2021) về Quy trình vận hành trong giết mổ lợn
- 1 Quyết định 2569/QĐ-BKHCN năm 2023 công bố Tiêu chuẩn quốc gia về Phúc lợi động vật do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- 2 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 150:2017/BNNPTNT về Yêu cầu vệ sinh thú y đối với cơ sở giết mổ động vật tập trung
- 3 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13166-2:2020 về Truy xuất nguồn gốc - Yêu cầu đối với chuỗi cung ứng thịt gia súc và gia cầm - Phần 2: Thịt trâu và thịt bò
- 4 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13166-5:2020 về Truy xuất nguồn gốc - Yêu cầu đối với chuỗi cung ứng thịt gia súc và gia cầm - Phần 5: Thịt gia cầm
- 5 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8400-54:2022 về Bệnh động vật - Quy trình chẩn đoán - Phần 54: Bệnh tỵ thư ở gia súc
- 6 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14418:2025 (ISO 23781:2021) về Quy trình vận hành trong giết mổ lợn







