Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4919:2007 (ISO 00687:2004)

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4919:2007 hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 687:2004, quy định phương pháp xác định độ ẩm trong mẫu phân tích chung của cốc (nhiên liệu khoáng rắn). Việc xác định chính xác chỉ tiêu độ ẩm này là cơ sở kỹ thuật quan trọng để tính toán, quy đổi các chỉ tiêu chất lượng khác của cốc về trạng thái khô hoặc các trạng thái biểu thị khác nhau, phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất gang thép, luyện kim và năng lượng.

Phân tích chi tiết các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4) của TCVN 4919:2007

- Điều 1: Phạm vi áp dụng

  • Tiêu chuẩn này quy định hai phương pháp sấy khô cụ thể để xác định độ ẩm trong mẫu phân tích chung của cốc, bao gồm: Phương pháp sấy trong dòng khí nitơ và Phương pháp sấy trong không khí.
  • Đối tượng áp dụng trực tiếp của tiêu chuẩn là các loại cốc được sản xuất từ than đá (như cốc lò cao, cốc đúc, cốc khí hóa và các loại cốc công nghiệp khác).
  • Tiêu chuẩn chỉ áp dụng đối với mẫu phân tích chung (mẫu đã được nghiền mịn đến kích thước hạt quy định theo tiêu chuẩn chuẩn bị mẫu), không áp dụng trực tiếp để xác định độ ẩm toàn phần của các lô cốc thương mại lớn khi chưa qua chuẩn bị mẫu.

- Điều 2: Tài liệu viện dẫn

  • Để áp dụng tiêu chuẩn này một cách chính xác và đồng bộ, người sử dụng cần kết hợp viện dẫn các tiêu chuẩn liên quan về lấy mẫu và chuẩn bị mẫu cốc (như các tiêu chuẩn thuộc bộ TCVN hoặc ISO về lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thử nghiệm nhiên liệu khoáng rắn).
  • Các tài liệu viện dẫn đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo mẫu cốc đưa vào phân tích độ ẩm đạt đúng độ mịn, độ đồng nhất và không bị thay đổi tính chất vật lý, hóa học trước khi tiến hành sấy.
  • Đối với các tài liệu viện dẫn có ghi năm công bố, các phiên bản được nêu sẽ được áp dụng. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố, phiên bản mới nhất (bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung) sẽ được áp dụng.

- Điều 3: Nguyên tắc của phương pháp

  • Nguyên tắc chung: Mẫu cốc phân tích được sấy nóng trong tủ sấy ở nhiệt độ quy định ổn định cho đến khi đạt được khối lượng không đổi. Độ ẩm của mẫu được tính toán dựa trên phần trăm khối lượng hao hụt so với khối lượng mẫu ban đầu trước khi sấy.
  • Phương pháp sấy trong dòng khí nitơ (Phương pháp A): Mẫu cốc được sấy ở nhiệt độ từ 105 độ C đến 110 độ C trong môi trường tủ sấy được thổi liên tục bằng dòng khí nitơ khô (hàm lượng oxy cực thấp). Phương pháp này giúp ngăn ngừa hoàn toàn nguy cơ oxy hóa của cốc ở nhiệt độ cao, đảm bảo độ chính xác tuyệt đối cho kết quả phân tích.
  • Phương pháp sấy trong không khí (Phương pháp B): Mẫu cốc được sấy ở nhiệt độ từ 105 độ C đến 110 độ C trong tủ sấy không khí thông thường. Phương pháp này đơn giản hơn nhưng chỉ được áp dụng khi thực nghiệm chứng minh được rằng sự oxy hóa của mẫu cốc trong điều kiện sấy không gây ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng cuối cùng của mẫu.

- Điều 4: Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm

  • Cân phân tích: Yêu cầu bắt buộc phải sử dụng cân phân tích có độ nhạy và độ chính xác cao, có khả năng đọc chính xác đến 0,1 mg để kiểm soát sai số khối lượng ở mức tối thiểu.
  • Tủ sấy: Phải có khả năng kiểm soát và duy trì nhiệt độ ổn định trong khoảng từ 105 độ C đến 110 độ C. Đối với phương pháp sấy trong dòng khí nitơ, tủ sấy phải được thiết kế có bộ phận nạp, phân phối và kiểm soát tốc độ dòng khí nitơ khô một cách hiệu quả.
  • Chén cân (chén sấy): Sử dụng chén bằng thủy tinh, silica hoặc kim loại chống ăn mòn, có nắp đậy kín khít để ngăn ngừa mẫu hấp thụ lại hơi ẩm từ môi trường xung quanh sau khi sấy và trong suốt quá trình cân.
  • Bình hút ẩm: Chứa chất hút ẩm mạnh (như silica gel hoạt tính hoặc phosphor pentaoxit) để làm nguội chén cân chứa mẫu sau khi sấy trước khi tiến hành cân khối lượng trên cân phân tích.

Ý nghĩa thực tiễn của các quy định mở đầu

Các quy định từ Điều 1 đến Điều 4 của TCVN 4919:2007 thiết lập nền tảng kỹ thuật chuẩn hóa cho toàn bộ quy trình thử nghiệm độ ẩm cốc. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về nguyên tắc sấy, kiểm soát nhiệt độ và độ chính xác của thiết bị đo lường giúp loại bỏ các sai số hệ thống, đảm bảo kết quả phân tích có độ lặp lại và độ tái lập cao, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe trong giao thương và kiểm soát chất lượng công nghiệp.

TIÊU CHUẨN QUỐC GIA

TCVN 4919:2007

ISO 687:2004

NHIÊN LIỆU KHOÁNG RẮN - CỐC - XÁC ĐỊNH ĐỘ ẨM TRONG MẪU PHÂN TÍCH CHUNG

Solid mineral fuels - Coke - Determination of moisture in general analysis test sample

 

Lời nói đầu

TCVN 4919:2007 thay thế TCVN 4919 - 89.

TCVN 4919:2007 hoàn toàn tương đương với ISO 687:2004.

TCVN 4919:2007 do Tiểu ban Kỹ thuật Tiêu chuẩn TCVN/TC27/SC3 Nhiên liệu khoáng rắn - Than biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

 

Lời giới thiệu

Xác định độ ẩm trong mẫu phân tích chung là cần thiết để hiệu chỉnh các kết quả của một phép xác định cụ thể, ví dụ chất bay hơi và nước, đối với các ảnh hưởng của nước trong phép xác định và cho phép các phép xác định được hiệu chỉnh về trạng thái khô.

Vì cốc hút ẩm, độ ẩm của cốc sẽ thay đổi theo sự thay đổi theo độ ẩm của không khí, do đó phải xác định hàm lượng ẩm trong mẫu phân tích chung cho tất cả các phần mẫu cân, dùng cho các phép phân tích khác. Nếu các phần mẫu thử dùng cho các phép phân tích khác được cân tại cùng một thời điểm thì một phép xác định hàm lượng ẩm là đủ để tiến hành hiệu chỉnh các phép phân tích này.

 

NHIÊN LIỆU KHOÁNG RẮN - CỐC - XÁC ĐỊNH ĐỘ ẨM TRONG MẪU PHÂN TÍCH CHUNG

Solid mineral fuels - Coke - Determination of moisture in the general analysis test sample

1. Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định độ ẩm trong mẫu phân tích chung của cốc. Có thể áp dụng phương pháp này để xác định độ ẩm trong cốc lò cao, cốc lò đúc, và các sản phẩm các bon hóa nhiệt độ cao khác.

2. Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau là cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi (nếu có).

ISO 1213-2:1992 Solid meneral fuels - Vocabulary - Part 2: Terms relating to sampling, testing and analysis (Nhiên liệu khoáng rắn - Từ vựng - Phần 2: Thuật ngữ liên quan đến lấy mẫu, thử nghiệm và phân tích).

3. Thuật ngữ và định nghĩa

Tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa nêu trong ISO 1213-2:1992.

4. Nguyên tắc

Mẫu cốc có khối lượng xác định được sấy trong không khí ở nhiệt độ từ 120oC đến 200oC và duy trì ở nhiệt độ này đến khối lượng không đổi. Hàm lượng ẩm được tính theo lượng mất về khối lượng của cốc. Cốc không có khả năng oxy hóa trong điều kiện nêu trên.

5. Thiết bị, dụng cụ

5.1. Cân phân tích, có độ chính xác đến 0,1 mg.

5.2. Tủ sấy, có khả năng kiểm soát nhiệt độ từ 120oC đến 200oC và được cung cấp bằng dòng không khí hoặc nitơ.

5.3. Chén cân, nông, bằng thủy tinh hoặc bằng kim loại không bị ăn mòn, có nắp đậy kín khít với kích thước sao cho lớp cốc không vượt quá 0,20 g/cm3.

5.4. Bình làm nguội, ví dụ bình hút ẩm, không dùng chất làm khô, có một miếng sứ hoặc một tấm kim loại, tốt nhất là bằng nhôm hoặc đồng. Bình có thể được cấp dòng không khí hoặc nitơ thổi qua trong suốt chu kỳ làm nguội

6. Chuẩn bị mẫu thử

Mẫu cốc dùng để xác định độ ẩm là mẫu thử phân tích chung (xem ISO 1213-2:1992). Đảm bảo độ ẩm của mẫu cân bằng với độ ẩm môi trường phòng thí nghiệm mà mẫu tiếp xúc, nếu cần rải mẫu thành lớp mỏng trong thời gian ngắn để cân bằng độ ẩm.

Trước khi xác định, trộn đều mẫu thử đã chuẩn bị ít nhất là một phút, tốt nhất là trộn bằng máy.

7. Cách tiến hành

Cân chén cân chưa có mẫu cùng với nắp khô, chính xác đến 0,1 mg. Cho 1 g ± 0,1 g mẫu cốc rải đều và cân lại. Sấy chén cân không đậy nắp trong tủ sấy ở nhiệt độ từ 120oC đến 200oC.

Khi kết thúc chu kỳ sấy, lấy chén cân với mẫu khô ra khỏi tủ sấy và ngay lập tức đậy nắp lại. Nếu cỡ tủ sấy cho phép, có thể đậy nắp lại khi chén cân vẫn nằm trong tủ sấy. Đặt chén cân lên tấm kim loại dày để nguội khoảng 10 phút. ở cuối chu kỳ làm nguội 10 phút, chuyển đĩa vào bình làm nguội (5.4) và để nguội đến nhiệt độ phòng, Ngay khi đạt đến nhiệt độ phòng, cân lại chính xác đến 0,1 mg.

CHÚ THÍCH 1 Nếu bình làm nguội bằng dòng không khí hoặc dòng nitơ, có thể chuyển đĩa trực tiếp lên tấm kim loại mà không cần làm nguội.

Nếu có sự nghi ngờ trong quá trình sấy, sấy lại ở 120oC đến 200oC thêm khoảng hơn 30 phút cho đến khi khối lượng thay đổi không quá 1 mg.

Đối với từng tủ sấy cụ thể, thời gian cần để đảm bảo khối lượng không đổi được kiểm tra xác nhận qua thực nghiệm.

CHÚ THÍCH 2 Thông thường sấy trong khoảng 4 giờ là đủ.

Thời gian để tiến hành xác định sẽ ngắn hơn nhiều nếu tiến hành sấy ở nhiệt độ 320oC trong khí nitơ, thông thường sấy trong khoảng 1 giờ là đủ. Đối với quy trình này, sử dụng tủ sấy có khoang trống nhỏ nhất.

Nếu thích hợp, có thể sấy ở nhiệt độ thấp hơn, ví dụ 105 oC đến 110oC như đối với than đá. Thời gian cần để đảm bảo khối lượng không đổi có thể kiểm tra xác nhận qua thực nghiệm.

8. Biểu thị kết quả

Độ ẩm trong mẫu cốc phân tích, MA, biểu thị bằng phần trăm khối lượng, tính theo công thức sau

trong đó

m1 là khối lượng của chén cân sạch và nắp, tính bằng gam;

m2 là khối lượng của chén cân, nắp và mẫu cốc trước khi sấy, tính bằng gam;

m3 là khối lượng của chén cân, nắp và mẫu cốc sau khi sấy, tính bằng gam.

Kết quả là giá trị trung bình của hai lần xác định, chính xác đến 0,1 %.

9. Độ chụm

9.1. Giới hạn độ lặp lại

Kết quả của các phép xác định song song (thực hiện trong một thời gian ngắn, nhưng không đồng thời) trong cùng một phòng thí nghiệm, do cùng một người thao tác, trên cùng một thiết bị, trên hai phần mẫu thử đại diện lấy từ cùng một mẫu phân tích, không được chênh nhau quá các giá trị ghi trong Bảng 1.

9.2. Chênh lệch tới hạn của độ tái lập

Vì độ ẩm trong các phòng thí nghiệm rất khác nhau, do vậy sẽ không thực tế nếu quy định một giá trị giới hạn đối với độ tái lập.

Bảng 1 - Độ chụm của phép xác định độ ẩm

Chênh lệch lớn nhất cho phép giữa các kết quả

Giới hạn độ lặp lại

Chênh lệch tới hạn của độ tái lập

0,2 % giá trị tuyệt đối

Xem điều 9.2

10. Báo cáo thử nghiệm

Báo cáo thử nghiệm gồm các nội dung sau:

a) viện dẫn tiêu chuẩn này;

b) nhận dạng mẫu thử;

c) các kết quả của phép xác định;

d) ngày, tháng tiến hành xác định.

 

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4919:2007 (ISO 00687:2004) về Nhiên liệu khoáng rắn - Cốc - Xác định độ ẩm trong mẫu phân tích chung

Số hiệu: TCVN4919:2007
Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
Ngày ban hành: 01/01/2007
Nơi ban hành: ***
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Tài nguyên - Môi trường
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4919:2007 (ISO 00687...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký